Văn Hóa Đình Làng Hà Tây

Thảo luận trong 'Hội Chắn Hà Tây' bắt đầu bởi Seo 1976, 17/5/19 at 12:07 PM.

  1. Seo 1976

    Seo 1976 Hội Phó - Trưởng Ban Pháp Chế Hội Chắn Hà Tây

    Nơi các Hội Viên Hội Chắn Hà Tây đăng bài về các ngôi Đình , Đền , Chùa của địa phương mình.
     
  2. Seo 1976

    Seo 1976 Hội Phó - Trưởng Ban Pháp Chế Hội Chắn Hà Tây

    Với địa danh nổi tiếng khắp cả nước về Văn Hóa, Lịch Sử lâu đời. Hà Tây là cái nôi của Văn Hóa Đình Làng, hàng trăm, hàng nghìn ngôi đình, đền, chùa lớn nhỏ trên khắp các thôn làng của đất Hà Tây. Hàng trăm làng nghề cũng từ thôn làng mà ra, mở ra một kỷ nguyên lịch sử về Văn Hóa của các thôn , làng trên mảnh đất Hà Tây.
    Chúng ta!!! Những người con, sinh ra từ làng quê đất Hà Tây, cảm nhận sự tự hào về đất Hà Tây cổ kính.
     
  3. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Lịch Sử Kiến Trúc Đình Làng Mông Phụ { Đường Lâm - Sơn Tây } conglangcomongphuduonglambiototongnguycodosup. images (2). tải xuống. dinh-mong-phu.
    Đình Mông Phụ được xây dựng trên một khu đất trung tâm và cao nhất của làng, rộng khoảng 1.800 . Mặt tiền Đại đình ngó ra hướng Tây Nam.

    Năm xây dựng ngôi đình 1533 thời Vua Mạc Đăng Doanh. Tuy nhiên, có ý kiến khác cho rằng về kiểu dáng kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc thì đình được làm vào thời Lê trung hưng năm 1533 Nguyễn Kim đưa Vua Lê Trang Tông Lên Ngôi ở Ai Lao. Về sau, đình được tôn tạo, tu sửa vài lần; nhưng vẫn giữ nguyên dạng kiến trúc, điêu khắc ở đầu thế kỷ 19. Trong số ấy, theo tài liệu, thì năm 1858, dưới triều vua Tự Đức, đình được sửa chữa lần thứ nhất[1]. Gần đây (2006 - 2008), đình cũng đã được tu sửa lớn [2].

    [​IMG]
    Nhà Xích hậu ở phía trước đình Mông Phụ
    Diện mạo của ngôi đình hiện nay được xây dựng theo kiểu chữ "Công" (chữ Hán: 工), gồm Nghi môn (cổng chính), sân đình, Tả Mạc (nhà bên trái), Hữu mạc (nhà bên phải) và Đại đình (hay tòa Đại bái, tức tòa đình chính). Ngoài ra, ở bên ngoài đình (phía tay phải từ đình nhìn ra) có nhà Xích hậu. Đây là nơi tiếp khách, và là nơi chuẩn bị lễ trước khi vào đình. Lược kể:

    • Nghi môn: gồm bốn trụ vuông xây gạch, hai trụ lớn và hai trụ nhỏ. Bốn đầu trụ tạo tác lồng đền hình vuông có chạm nổi tứ linh, trên đỉnh hai trụ lớn có hai con sư tử ngồi nhìn ra phía giữa, đỉnh hai trụ nhỏ đội hai bình hoa. Ba mặt trụ có các câu đối chữ Hán chạm nổi.
    • Sân đìnhTả Hữu mạc: Sân đình rộng, lát gạch Bát Tràng, hai bên có Tả Hữu mạc, mỗi nhà có năm gian nhỏ. Đây là nơi thờ tổ tiên các dòng họ trong làng và người có công với làng…
    • Đình chính: gọi là tòa Đại bái gồm năm gian hai chái. Hậu cung (đình trong) là một tòa nhà nối ba gian giữa của đình ngoài kéo dài ra phía sau như cán chày. Hai bên đình có hai cái giếng cổ (tục gọi là hai mắt rồng). Mái đình hình võng nhẹ, lợp ngói mũi hài, hai đầu nóc có chạm hình hai con rồng. Góc mái uốn ngược lên thành hình rồng. Các vì kèo được thiết kế theo kiểu giá chiêng chồng rường, dựa trên sáu hàng chân. Những đầu dư của các xà ở gian chính và những kẻ hiên là những trọng điểm để trang trí. Những mô típ trang trí như rồng, hổ, , chim, hoa , mây,... đều được chạm nổi, chạm lộng hoặc chạm ren. Đình chính không có tường vách ngăn che, tất cả đều để trống, chỉ có một lan can có chấn song hình con tiện bao quanh ba mặt đến tường của Hậu cung. Đình có sàn ở hai gian bên, ở gian giữa có cửa võng hình lưỡng long chầu nguyệt sơn son thiếp vàng. Một bàn thờ lớn trang trí bằng tượng rồng, hổ phù ngậm chữ "Thọ" (chữ Hán: 壽), mây... Hậu cung chỉ có sườn gỗ bào trơn, có tường xây kín ba mặt, bệ thờ đặt giữa Hậu cung, có ngai và bài vị thờ Tản Viên Sơn Thánh.[3]
     
    nguyenvanxuan09, Lệ Thủy 86, Thắngst877 others thích điều này.
  4. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    3 Ngôi Đình nổi tiếng nhất Hà Tây
    Đình Chu Quyến (hay còn gọi là đình Chàng) thuộc làng Chu Quyến, xã Chu Minh, huyện Ba Vì, Hà Nội là di tích nghệ thuật khá độc đáo và có niên đại cuối thế kỷ 17.

    [​IMG]
    Một trong những nét đặc sắc của đình Chu Quyến là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc trên cấu kiện gỗ. Điểm đặc biệt phải kể đến hình tượng rồng - đề tài chủ đạo ở đình Chàng được thể hiện bằng rất nhiều cách khác nhau.

    [​IMG]
    Phân loại theo chức năng, đình Chu Quyến thuộc loại hình kiến trúc tín ngưỡng. Còn theo phân loại chung, nơi này lại là di tích kiến trúc nghệ thuật. Đình đã được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa.

    [​IMG]
    Người cưỡi hổ là một tạo hình điêu khắc đẹp và ấn tượng khác rất đặc trưng ở đình Chu Quyến.

    [​IMG]
    Đình Mông Phụ nằm ở trung tâm làng cổ Đường Lâm, Ba Vì, Hà Nội. Theo nhiều nghiên cứu, đình được xây dựng vào giai đoạn Hậu Lê và đầu thời nhà Nguyễn. Gian giữa đại đình có cửa võng hình lưỡng long chầu nguyệt sơn son thiếp vàng. Ban thờ lớn được trang trí bằng tượng rồng, hổ phù...

    [​IMG]
    Rồng là hình tượng chính, thể hiện ước muốn mưa thuận gió hòa của dân làng. Đến đình Mông Phụ, du khách cũng dễ tìm thấy những tác phẩm điêu khắc rồng tinh xảo.

    [​IMG]
    Làng cổ Đường Lâm cách trung tâm Hà Nội khoảng 60km, lưu giữ nhiều giá trị truyền thống và có một cảnh sắc đồng quê thanh bình nên thu hút rất nhiều du khách cả trong, ngoài nước.

    [​IMG]
    Không chỉ được biết đến như một trong những ngôi đình cổ nhất Việt Nam, với gần 500 tuổi, đình Tây Đằng còn sở hữu nhiều nét kiến trúc độc đáo, có một không hai. Phía trước đình Tây Đằng là một hồ bán nguyệt lớn

    [​IMG]
    Ngoài ra, phía sau đình Tây Đằng còn có giếng cổ. Vừa qua, ngôi đình thờ Đức Tản Viên Sơn Thánh – vị đệ nhất phúc thần của người Nam – đã vinh dự được nhà nước xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt.

    [​IMG]
    Nơi đặt bài vị thờ nằm trên gác lửng của gian giữa. Bên cạnh giá trị về mặt kiến trúc, đình Tây Đằng còn là nơi thờ Tản Viên Sơn thánh (Sơn Tinh) – một nhân vật anh hùng theo truyền thuyết đã chế ngự thiên nhiên, được dân chúng suy tôn là bậc thánh; Thánh Gióng và Thần Nông.
     
  5. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Đình Tây Đằng huyện Ba Vì 18A01016-tckt.vn-01.
    Nước Việt Nam qua bao thăng trầm bi tráng của lịch sử dựng nước giữ nước, chống ngoại xâm để bảo vệ giang sơn thiêng liêng của biết bao thế hệ cha ông đã dày công vun đắp. Làng Việt phát triển theo tiến trình lịch sử đất nước. Mỗi làng quê đều lưu giữ những yếu tố địa văn hóa và đặc điểm riêng về ý thức hệ, thành tựu xây dựng làng và chống giặc ngoại xâm. Làng còn mang một ý nghĩa tâm linh sâu sắc của những con người đã gắn bó với quê hương yêu quý của mình. Đình làng là nơi thờ cúng vị Thành Hoàng, Người có công lao đặc biệt với làng như đánh đuổi giặc ngoại xâm, hộ công trợ giúp bảo vệ dân làng, lo cho dân tổ chức đảm bảo cuộc sống bền vững… Đình còn là nơi tổ chức lễ hội và sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

    [​IMG]

    [​IMG]
    Cột trụ nghi môn trước cổng đình

    Mỗi làng tùy theo nét truyền thống văn hóa, vị trí địa lý, trình độ phát triển kinh tế xã hội riêng mà xây dựng ngôi đình với quy mô kích thước và trình độ kỹ – mỹ thuật khác nhau, hướng phong thủy của đình cũng không giống nhau. Thành Hoàng có thể là nhân thần hoặc thiên thần hay những hình tượng dị biệt mà nhân dân tôn thờ. Ví dụ làng Liêu Xuyên quê tôi, tương truyền Vua thân chinh đi đánh giặc, khi chiến thuyền vào sông Lô Giang, con sông có đoạn hình quả bầu do Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đặt. Gặp thế giặc mạnh lại đang đuổi gấp, thuyền chạy đến khúc sông gần làng, nhìn thấy một cây Phù dung cổ thụ, Người liền khấn: “Nếu vận nước còn thì xin hãy phù hộ cho ta vượt qua lúc nguy khó này”. Vua vừa khấn xong, bỗng cây Phù dung đổ rạp xuống, ngăn kín cả dòng sông. Giặc bất thần bị chặn đứng liền quay lui. Vua thoát hiểm trở về, tổ chức lực lượng rồi đánh đuổi giặc ra khỏi bờ cõi. Vua lệnh cho làng xây đình để thờ cúng vị thần Phù dung đã cứu vua giúp nước.

    Xứ Đoài xưa, hay còn gọi là trấn Sơn Tây hoặc trấn Hưng Hóa, là miền quê có nhiều ngôi đình nổi tiếng của người Việt cổ. Đình Đoài mang dáng vóc kiến trúc kỳ vĩ, ý nghĩa tâm linh sâu sắc.

    [​IMG]
    Hoa văn trên mái đình

    Theo cuốn Di tích lịch sử Hà Tây, thì trên địa bàn toàn tỉnh có 820 ngôi đình đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa.
    Những ngôi đình này phần lớn được xây dựng vào thế kỷ 17 và 18 như các đình: Chu Quyến, Quang Húc, Phú Hữu, Phú Xuyên, Đông Viên, Viên Châu, Phượng Châu, Cộng Hòa thuộc Ba Vì, Tường Phiêu, Mông Phụ thị xã Sơn Tây, Đại Phùng Đan Phượng, Cấn Hữu và đình So Quốc Oai… Nhân dân nơi đây thường truyền nhau câu “Đẹp đình So, to đình Cấn”. Đình So đẹp cả vị trí: Có sông trước mặt, có núi đất sau lưng quanh năm xanh mát. Nội thất ngôi đình rất quý hiếm, còn nguyên nét cổ xưa.

    Giáo sư Trần Quốc Vượng lúc sinh thời đã khẳng định: Đình cổ nhất cả nước có năm ngôi thì Hà Nội chiếm cả năm. Riêng Ba Vì có đến ba ngôi, đó là: Đình Tây Đằng, đình Thanh Lũng và đình Thụy Phiêu. Ba ngôi đình này đều xây dựng vào đầu thế kỷ 16 dưới thời nhà Mạc. Vật liệu xây dựng hoàn toàn bằng gỗ mít và gỗ thông đỏ. Đền Chèm thuộc huyện Từ Liêm xây dựng trên 1.000 năm, cung Quảng Văn phố Cửa Nam xây dựng vào thời Lê sơ. Nhưng hai công trình này phải đến triều Mạc Đăng Doanh mới được hoàn thiện thành ngôi đình.

    Vùng núi Ba Vì nơi có đền thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn, người là Sơn Tinh đánh bại Thủy Tinh trong truyền thuyết “Sơn Tinh – Thủy Tinh”. Ngài dạy dân biết chế ngự thiên nhiên, đắp đê phòng lụt, gieo trồng cấy lúa, phát triển sản xuất, đánh giặc ngoại xâm. Ngài là Đức Thánh Tổ của nền văn minh lúa nước, là Vua Thần Nông trông coi việc nhà nông trên Thiên Đình. Người được nhân dân cả nước tôn thờ Đệ Nhất Phúc Thần. Các đình làng ở hầu hết trong huyện Ba Vì cũng như trong vùng đất xứ Đoài xưa phần lớn suy tôn Ngài là Thành Hoàng Làng để thờ cúng và tỏ lòng thành kính, tri ân.

    Đình Tây Đằng – Một di sản kiến trúc văn hóa còn mãi với thời gian
    Là một trong những ngôi đình cổ nhất Việt Nam, Đình Tây Đằng đã ngót 500 năm tuổi, được xây dựng vào thời nhà Mạc năm Đại Chính nhị niên (1531). Ngôi đình thờ Đức Thánh Tản Viên Đệ Nhất Phúc Thần. Toàn bộ khu đình nằm trên một khuôn viên rộng lớn, thoáng đẹp, hướng Nam mé Tây trông về đền Đức Thánh Tản trên núi Ba Vì. Đi qua cổng chính ta bắt gặp một hồ nước lớn, nơi giao hòa giữa trời cha đất mẹ dâng đầy linh khí. Tiếp đến là nghi môn, gồm bốn cột đồng trụ, hai cột thấp bên trên có hai nghê chầu, hai cột cao, bên trên mỗi đầu cột có bốn chim phượng uốn lượn vút lên như một bông hoa dành dành, thể hiện thế nghiêm thiêng của ngôi đình. Hai phía bên phải và bên trái là tả vu và hữu vũ. Hạng mục công trình này nhằm làm những công việc chuẩn bị cho việc khánh tiết. Nhà tả vu và hữu vu đã bị đổ nát từ lâu, mãi đến khi tiến hành trùng tu ngôi đình thì mới được dựng lại. Đầu hồi phía phải của ngôi đình là một giếng cổ, nguồn nước đá ong bốn mùa trong xanh. Giếng này trước đây nằm ngoài hàng rào của khuôn viên đình, nay mới được đưa vào trong, làm cho ngôi đình càng thêm linh diệu hơn. Sau nghi môn là một sân rộng, nơi tổ chức lễ hội vào dịp xuân về hoặc những ngày cúng tế.

    [​IMG]
    Giếng nước cổ ở đầu hồi bên phải Đình Tây Đằng

    Hai bên sân có tả mạc, hữu mạc dẫn vào đại đình. Trước đây, thềm đại đình chỉ cao khoảng 40 cm đủ một bước chân, sau khi trùng tu, thềm đã được nâng thành bậc tam cấp cao 75cm. Sàn đình rộng 360m2, được bố cục kiểu 3 gian với sáu hàng cột: Hai cột cái, hai cột quân và hai cột con, đó cũng là nét đặc trưng của những ngôi đình cổ. Tất cả các cột đều theo lối “thượng thu hạ thách” kiểu dáng bông đòng đòng, “ngồi” trên chân tảng đá ong. Tất cả các cột quân và cột con đều có xu hướng choãi ra, tạo thế mở rộng vùng chân đế và hạ thấp trọng tâm của ngôi đình nhằm tăng độ ổn định, bền vững cho công trình. Đỡ thượng lương là giá chiêng chồng rường kiểu “chồng nhị”. Gian chính giữa đình là bàn thờ Đức Thánh có cửa võng, y môn, lọng che, hai giàn bát bửu và đôi hạc chầu. Gian thờ quanh năm đóng cửa, trừ những ngày lễ hội, nhưng do đông khách thăm viếng nên gian thờ lúc nào cũng nghi ngút khói hương, không khí thật trang nghiêm! Các gian hai bên còn lại được bố trí sạp ngồi của các quan viên trong những ngày lễ hội hay khi việc làng. Kết cấu được giữ nguyên theo kiểu nhà sàn của người Việt cổ vùng sơn cước. Khác biệt của đình Tây Đằng so với các ngôi đình còn lại là không có ván thưng xung quanh, nhờ đó công trình trở nên thông thoáng hơn và bền vững với thời gian. Do đình thấp nên người Việt cổ đã chọn kết cấu rất sáng tạo, mặc dù không có quá giang: Liên kết cột cái với cột cái là câu đầu, cột cái với cột quân là xà nách. Trên xà nách là chồng rường tạo độ dốc cho mái. Kẻ liền bẩy kéo dài từ cột quân vươn dài đến tàu mái. Hệ thống xà thượng, giằng đầu các cột cái, cột quân và cột con lại với nhau theo chiều dài của ngôi đình. Cột con đỡ thẳng vào bẩy không qua ngàm, như vậy tạo cho bẩy không bị tiết diện giảm yếu khi liên kết với cột con làm cho công trình vững chắc hơn. Bí quyết để cấu trúc công trình được ổn định và bền vững là ở chỗ dùng mộng thắt đuôi én, ngoàm và nêm chắc đầu cột cũng như các cột quân, cột con choãi chân thang ra ngoài. Do đặc tính của công trình như vậy nên ngay cả sau khi đã tháo toàn bộ sạp và các xà chân cột, công trình hoàn toàn không suy xuyển gì, vẫn vững vàng cùng năm tháng.

    [​IMG]
    Một số họa tiết trang trí gỗ trên vỉ kèo Đình Tây Đằng

    Đình Tây Đằng có tới 1.300 họa tiết được chạm khắc hết sức tinh xảo, đậm nét tài hoa của những con người làm ra nó. Nét đặc biệt có một không hai của ngôi đình này là không một chi tiết nào giống nhau, từ họa tiết kẻ liền bẩy bốn góc, kẻ liền bẩy vì chính, đến các đầu dư đầu duôi, xà thượng, các chồng rường, bát đỡ, câu đầu, chếnh xối, ván nong… đều là những tác phẩm nghệ thuật kiệt tác. Mỗi hoa văn một kiểu, các họa tiết hoa văn mang tính đặc sắc của các vùng miền văn hóa khác nhau như: Họa tiết người nông dân trồng cấy lúa của vùng đồng bằng Bắc Bộ, quăng chài bắt cá của vùng sông nước miền duyên hải, đua thuyền của Nam Bộ, chơi đàn tính của đồng bào Tày Nùng, voi chầu của vùng Tây Nguyên, ngựa hý của vùng cao, đấu vật kéo co trong ngày lễ hội mang màu sắc dân gian, cá vượt vũ môn hóa rồng, bộ tứ linh, trời mây hoa lá rất phong phú, có tới vài chục nữ thần cưỡi mây bay lượn trên bầu trời. Các nữ thần được bố trí trên các đầu duôi khắp bốn phía sát mái đình, hình tượng các nữ thần đầu quấn khăn như những Apxara, cũng với hình tượng Bà Banh mang ý nghĩa phồn thực đậm phong cách của các nghệ nhân Chămpa. Nghệ thuật Chămpa không chỉ thấy riêng ở đình Tây Đằng mà còn gặp ở đình Yên Bồ cũng gần đấy. Bà Banh đình Tây Đằng đặt ở con chồng nằm trên vị trí xà nách. Bà Banh ở đình Yên Bồ đặt trên giữa thượng cung, phía trước bài vị Thành Hoàng làng, gây một cảm giác tín lễ của phong tục Chăm, cùng với chiếc gậy hỉ. Khi người nào hiếm con trai đều đến xin cầu tự ở đây. Ông Từ làm lễ cúng Thành Hoàng xong, người chồng cầm gậy hỉ chọc vào khe linh của Bà Banh ba lần. Sau chín tháng mười ngày là đạt được linh ứng. Thể thức tín ngưỡng này giống như Linga và Yoni nguyên bản vùng tháp Chàm và Tây Nguyên.

    [​IMG]
    Một số mẫu điêu khắc

    Năm 2005, Bộ Văn hóa đã chủ trì việc trùng tu ngôi đình. Cột gỗ mít và thông đỏ được thay thế bằng gỗ lim, các chân tảng bằng đá ong được thay bằng đá xanh. Chỉ còn một vài cột cái, cột quân và một phần cột con là cố giữ lại. Các họa tiết đặc biệt quý hiếm của đình Tây Đằng vẫn được bảo tồn nguyên giá trị vốn có. Việc trùng tu đã đảm bảo kĩ thuật tốt, đảm bảo độ vững chãi của ngôi đình. Tiếc rằng, toàn bộ các cột được thay thế chỉ giữ lại được phần thượng thu hạ thách, còn dáng kiểu bông đòng đòng thì đã không còn, nên phần nào xa cách với di sản xưa. Bốn trụ đăng nghi môn cũng chỉ giữ lại được phần trụ lớn về phía bên phải của ngôi đình. Đỉnh trụ bốn góc chạm bốn con phượng uốn lượn thành bông hoa dành dành. Dáng trụ thanh thoát và nghệ thuật rất tinh xảo tiếc rằng, trụ lớn phía đối diện và hai trụ con hai bên đắp còn thô lược. Hậu thế không thể bắt trước được Tiền nhân.

    Đình Tây Đằng là một tác phẩm nghệ thuật kiến trúc văn hóa đặc biệt độc đáo, đầy ắp các di vật quý giá cả về văn hóa vật thể lẫn phi vật thể của ông cha. Với những giá trị văn hóa, kiến trúc, chạm khắc, tài hoa, sống động, đình Tây Đằng như một bảo tàng nghệ thuật của thế kỷ 16 và là di sản văn hóa kiến trúc độc nhất vô nhị của tổ tiên ban tặng cho các thế hệ con cháu muôn đời sau. Hãy biết bảo tồn, tôn tạo và gìn giữ di sản đặc biệt quý giá này.
     
  6. Phạm Hồng Minh

    Phạm Hồng Minh Lãng tử Hà Tây

    Trên khắp mảnh đất Hà Tây {cũ}…Vẫn còn rất nhiều ngôi Đình, Đền, Chùa cổ, ace hãy up bài kể về ngôi Đình, Đền ,Chùa của địa phương mình ...
     
  7. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Đền Và là một trong tứ cung của Xứ Đoài
    Thờ Thánh Tản Viên

    Nghi môn đền Và với hình ảnh lưỡng long chầu nguyệt ẩn mình sau gốc đại già. Phía trước, đôi sư tử đá mới được đưa vào thời gian gần đây nhìn lạc lõng đến vô duyên. Từ hình thức đến vị trí đặt đều không ăn nhập gì với phong cách kiến trúc và cảnh quan của đền.

    [​IMG]



    Toà nhà tiền tế đền Và vắng lặng giữa trưa hè.Nhà tiền tế có kiến trúc 5 gian, để thoáng. Trên các cột trụ treo rất nhiều hoành phi câu đối do nhà nho, danh sĩ các triều đại soạn ra ca ngợi cảnh quan đền và tôn vinh uy linh của Tản Viên Sơn Thánh.

    [​IMG]


    Một cụ từ trông đền ngồi lặng lẽ bên cửa dâng lễ trước hậu cung.

    [​IMG]


    Nghi môn đền nhìn từ phía trong ra. Sát hai bên tả,
    hữu nghi môn là gác trống và gác chuông.


    [​IMG]


    Gác chuông đền Và với lối kiến trúc chồng diêm tám mái, mặt hướng vào sân đền, được trang trí theo chủ đề ngũ phúc với hình tượng năm con dơi xoè cánh ôm lấy khuôn cửa sổ tròn.

    [​IMG]


    Gác trống đền Và liền kề nghi môn.

    [​IMG]


    Tháp thiêu hương ở đầu hồi nhà tiền tế,
    nơi hoá mã dâng lên thần linh sau khi cúng tế xong.


    [​IMG]


    Những đầu đao trang trí hoa văn mây, rồng cong vút quần tụ dưới trời xanh.

    [​IMG]


    Bức bình phong hai mặt tạo hình hang động phía trước nghi môn. Mặt hướng vào nghi môn đắp hình “long cuốn thuỷ” dưới dạng tứ linh với ẩn ý cầu cho mưa thuận gió hoà, được mùa và có người tài ra giúp dân giúp nước.

    [​IMG]


    Mặt trước bình phong hướng ra ngoài thờ ngũ hổ.Năm ông hổ, năm màu sắc,
    trấn giữ các phương, biểu tượng cho sự uy nghiêm muôn đời của đại ngàn.


    [​IMG]


    Ban thờ Cô Chín Thượng Ngàn, người cai quản non ngàn thăm thẳm.

    [​IMG]


    Quần thể đền Và ẩn mình dưới tán rừng lim xum xuê xanh mát.

    [​IMG]



    Bức tường đá ong rêu phong chạy quây quanh quần thể đền Và. Tường được xây hai lớp theo cách thức thượng thu hạ thách, chính giữa lèn đất. Trong dân gian có lưu truyền rằng, đá ong xây tường được lấy ở đồi Vông, thôn Vân Gia, còn gọi là "xóm Rắn" nên có câu thành ngữ "cấu cổ con xà, đè cổ con quy"

    [​IMG]


    Vết thời gian hằn trên những thân cây lim già xung quanh đền.

    [​IMG]


    Cá trê đá. Theo truyền thuyết thì trong một lần đi chơi,Thánh Tản Viên kéo vó bắt được 100 con cá. Thấy trong vó có con cá trê chửa đang quẫy, ngài bèn thả ra sông. Con cá mẹ sau khi sinh nở xong, đem cả chín con cá con về chầu bên đền Đức thánh. Ngày trước ta có thể nhìn thấy cá trê đá mẹ với đàn cá trê đá con. Tuy nhiên hiện nay bầy cá con đã mất, chỉ còn con cá trê mẹ. Xóm nơi có mỏm đá hình cá trê được gọi là xóm Cá Trê, nằm không xa đền Và.


    Vài nét sơ lược về đền Và:

    Đền Và thuộc thôn Vân Gia, xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, là một trong bốn cung thờ Thần Núi Ba Vì - Tản Viên Sơn Thánh, Đệ Nhất Phúc Thần trong Tứ bất tử của tâm thức dân gian Việt. Đền tọa lạc trên một gò đất rộng, thấp hình con rùa đang duỗi bốn chân ngóng đầu xuống đầm Vân Mộng, hướng về phía mặt trời mọc. Theo truyền thuyết, đền Và là Hành cung của Tản Viên Sơn Thánh mỗi khi ngài đi tuần thú, du ngoạn. Tính đến nay, đền đã trải qua nhiều lần trùng tu tôn tạo ở các thời kỳ. Trong đó có lần trùng tu lớn vào năm 1884, và gần đây nhất là vào năm 2008. Đềnhiện đang lưu giữ 5 bản thần tích "Tản Viên Sơn Thánh"; 18 đạo sắc phong của các đời vua, 47 đôi câu đối được chạm khắc, viết trên vách cột, trên gỗ và 18 bức hoành phi viết trên gỗ hoặc đá…

    Khu vực kiến trúccủa đền rộng khoảng 2.000 m² ẩn dưới tán rừng lim tươi tốt. Quây quanh hai bên và phía sau toàn bộ khu vực đền là bức tường thành bằng đá ong. Dân gian lưu truyền rằng, đá ong xây tường được lấy ở đồi Vông, thôn Vân Gia, còn gọi là "xóm Rắn" nên mới có câu thành ngữ "cấu cổ con xà, đè cổ con quy".

    [​IMG]


    Kiệu “quay” trong lễ hội đền Và

    [​IMG]


    Lễ rước long ngai bài vị "Tam vị Đức Thánh Tản" từ đền Và
    qua sông Hồng sang đền Ngự Dội


    Quần thể kiến trúc đền Và dàn trải và cân đối theo trục. Phía trước nghi môn là bức bình phong được đắp tạo thành những vòm hang mang dáng vẻ tự nhiên. Mặt ngoài bình phong thờ ngũ hổ ngồi trong động. Mặt sau của động này đắp hình “long cuốn thuỷ” dưới dạng tứ linh với ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hoà, được mùa và có người tài ra giúp dân giúp nước. Từ bình phong, qua một khoảng sân có tường thấp bao quanh là đến "nghi môn" - cổng chính của đền. Tiếp theo nghi môn là một khoảng sân rộng, nằm giữa các toà kiến trúc khép kín. Liền sát và đăng đối hai bên nghi môn là gác chuông và gác trống, rồi đến hai dãy tả mạc, hữu mạc. Phía sau hai gian tả hữu mạc có nhà tạo soạn là nơi nghỉ tạm cho khách hành hương. Nhà tiền tế nằm song song với nghi môn ở phía cuối sân. Đầu hồi nhà tiền tế có tháp thiêu hương để hóa vàng mã sau khi cúng tế xong. Cuối cùng, tiếp giáp nhà tiền tế là hậu cung cócấu trúc hình chữ "công" nơi thờ Đức Quốc Mẫu - thân mẫu Thánh Tản Viên và Tam vị Đức Thánh Tản (gồm Thánh Tản Viên và hai người em con chú là Cao Sơn, Quý Minh).

    Lễ hội Đền Và là lễ hội lớn vào bậc nhất xứ Đoài, được tổ chức hai lần trong năm. Hội mùa xuân vào dịp rằm tháng giêng hàng năm (từ ngày 13 đến hết ngày 15), và cứ 3 năm thì tổ chức lớn một lần gọi là hội chính (vào các năm Tý - Mão - Ngọ - Dậu). Tâm điểm của lễ hội là nghi lễ rước long ngai bài vị "Tam vị Đức Thánh Tản" từ đền Và qua sông Hồng sang đền Ngự Dội (xã Vĩnh Linh, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) là nơi theo truyền thuyết Thánh Tản Viên đã tắm để tế lễ diễn lại sự tích này rồi quay trở lại đền Và..

    Lễ hội mùa thu (rằm tháng 9 âm lịch) mở vào ngày 14 tháng 9 (âm lịch) với nghi thức chính là đánh bắt cá ở sông Tích để chọn ra 99 con cá trắng to chế biến thành các món tế Thánh. Việc tế cá xuất phát từ truyền thuyết Thánh Tản Viên dạy dân kéo vó và bắt được 100 con cá, trong đó có một con cá trê đang có mang. Ngài phóng sinh con cá trê đó. Cá mẹ sau này sinh được 9 con, đều hoá đá, đầu chầu về hướng đền Và tạ ơn Đức Thánh đã cứu mạng. Lễ hội này dân gian gọi là lễ hội “đả ngư ”. Một điều đặc biệt là tục lệ xưa ở đền Và qui định cơm ăn, cỗ cúng ở đây không được dùng muối, mà phải ăn nhạt. Khi xơi cơm xong, quan viên uống nước ăn trầu (lá trầu, cau, vỏ) nhưng không được dùng vôi. Vì thế, dân gian có câu: "Hội đền Và trầu không vôi, xôi không muối".
     
  8. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    1280px-Lối_vào_chùa_Mía. 1280px-TuongTuyetSonChuaMia (1). Chùa Mía (tên chữ: Sùng Nghiêm tự, 崇嚴寺) là một ngôi chùa ở xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Xưa kia, vùng này là Cam Giá, tên Nôm là Mía, nên chùa này được quen gọi là chùa Mía. Đây là ngôi chùa lưu giữ nhiều tượng nghệ thuật nhất Việt Nam (287 tượng)[1].

    Chùa Mía
    崇嚴寺 (Sùng Nghiêm tự)

    [​IMG]
    Vị trí
    Quốc gia
    [​IMG] Việt Nam
    Địa chỉĐường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Nội
    Thông tin
    Khởi lập
    1621
    [​IMG] Chủ đề:-Phật giáo

    Lịch sửSửa đổi

    Ban đầu, chùa có quy mô nhỏ, được xây dựng từ xa xưa[2]. Năm 1632, Phi tần trong phủ chúa Trịnh Tráng là Ngô Thị Ngọc Diệu (còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Dong) [3] thấy miếu bị hoang phế điêu tàn nên đã cùng cha mẹ và người dân các làng thuộc tổng Cam Giá (tức Tổng Mía) cùng nhau tôn tạo lại. Phi tần Ngọc Dong vốn là người làng Nam Nguyễn (Nam An) trong Tổng Mía, nên được người mến mộ gọi là "Bà Chúa Mía", đồng thời đã tạc tượng đưa vào phối thờ ở chùa và còn có đền thờ riêng. Về sau chùa được tu bổ nhiều lần, song đến nay quy mô tôn tạo thời Bà chúa Mía dường như vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.


    Kiến trúcSửa đổi

    [​IMG]
    Tháp Cửu phẩm Liên Hoa ở Chùa Mía
    Gác chuông của chùa là ngôi nhà 3 gian làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái. Các góc mái đều gắn đao triện. Sàn nhà bằng gỗ, ở tầng gác có hàng lan can tiện. Các ván long, xà nách đều được bào xoi cạnh và chạm trang trí đề tài hoa lá. Trên gác treo một quả chuông đúc năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743) và một khánh đồng đúc năm Thiệu Trị thứ 6 (1864).

    Gần gác chuông và cây đa cổ thụ là tòa bảo tháp Cửu phẩm Liên Hoa cao 13 m thờ vọng Xá Lợi đức Phật.

    Trong tiền đường, ở gian phải có tấm bia khắc năm 1634, nói về việc trùng tu chùa năm 1632. Bia trang trí đẹp, cao hơn 1,6 m, rộng 1,2 m, dựng trên lưng một con rùa. Gian trái tiền đường có bàn thờ công chúa Liễu Hạnh. Sau tiền đường là chùa Trung, tiếp theo là chùa Thượng - hậu đường. Có hai dãy hành lang nối chùa Trung và chùa Thượng, bao quanh lấy Phật điện ở giữa.

    Chùa Trung và chùa Thượng còn giữ được bộ khung gỗ mà có nhiều phần điêu khắc có từ thế kỷ 17. Chùa Mía khá nổi tiếng với số tượng có ở đây: có đến 287 pho tượng lớn, nhỏ, trong đó có 6 pho tượng đồng, 106 pho tượng gỗ và 174 pho tượng bằng đất luyện được sơn son thếp vàng. Ở chùa Trung có hai pho tượng Hộ pháp lớn và 8 pho tượng Kim Cương. Mỗi pho tượng là hình tượng một võ tướng đang trong tư thế chuẩn bị chiến đấu để trừ tà bảo vệ phật pháp. Hình khối, bố cục vững chắc, thân hình cân đối, đường nét thoải mái và khỏe. Tại chùa Thượng, người ta còn thấy các động bằng đất đắp. Trong và xung quanh các động có khá nhiều tượng. Trong một động có cả tượng Phật Thích Ca nhập Niết bàn. Pho tượng Tuyết Sơn cao 0,76 m và Quan Âm Tống Tử cao 0,76 m ở đây cũng rất đẹp. Tượng Quan Âm thường được gọi là tượng Bà Thị Kính. Tượng này diễn tả một người phụ nữ thùy mị, có duyên, vẻ mặt hơi buồn nhưng rất hiền từ nhân hậu, ẵm một đứa bé bụ bẫm kháu khỉnh. Đường nét chạm khắc mềm mại, trau truốt.

    Người làng Mía có câu ca dao về pho tượng:

    Nổi danh chùa Mía làng ta,
    Có pho Tống Tử Phật Bà Quan Âm

    Với những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc độc đáo, với quy mô bề thế và đẹp. Chùa Mía đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật.
    1280px-BaChuaMia. 1280px-LaHan3. 1280px-TuongTuyetSonChuaMia.
     
    trai nguyenbac, nguyenvanxuan09, thao96pb7 others thích điều này.
  9. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Đình Tây Đằng Ba Vì
    Phát triển theo tiến trình lịch sử đất nước. Mỗi làng quê đều lưu giữ những yếu tố địa văn hóa và đặc điểm riêng về ý thức hệ, thành tựu xây dựng làng và chống giặc ngoại xâm. Làng còn mang một ý nghĩa tâm linh sâu sắc của những con người đã gắn bó với quê hương yêu quý của mình. Đình làng là nơi thờ cúng vị Thành Hoàng, Người có công lao đặc biệt với làng như đánh đuổi giặc ngoại xâm, hộ công trợ giúp bảo vệ dân làng, lo cho dân tổ chức đảm bảo cuộc sống bền vững… Đình còn là nơi tổ chức lễ hội và sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

    [​IMG]

    [​IMG]
    Cột trụ nghi môn trước cổng đình

    Mỗi làng tùy theo nét truyền thống văn hóa, vị trí địa lý, trình độ phát triển kinh tế xã hội riêng mà xây dựng ngôi đình với quy mô kích thước và trình độ kỹ – mỹ thuật khác nhau, hướng phong thủy của đình cũng không giống nhau. Thành Hoàng có thể là nhân thần hoặc thiên thần hay những hình tượng dị biệt mà nhân dân tôn thờ. Ví dụ làng Liêu Xuyên quê tôi, tương truyền Vua thân chinh đi đánh giặc, khi chiến thuyền vào sông Lô Giang, con sông có đoạn hình quả bầu do Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đặt. Gặp thế giặc mạnh lại đang đuổi gấp, thuyền chạy đến khúc sông gần làng, nhìn thấy một cây Phù dung cổ thụ, Người liền khấn: “Nếu vận nước còn thì xin hãy phù hộ cho ta vượt qua lúc nguy khó này”. Vua vừa khấn xong, bỗng cây Phù dung đổ rạp xuống, ngăn kín cả dòng sông. Giặc bất thần bị chặn đứng liền quay lui. Vua thoát hiểm trở về, tổ chức lực lượng rồi đánh đuổi giặc ra khỏi bờ cõi. Vua lệnh cho làng xây đình để thờ cúng vị thần Phù dung đã cứu vua giúp nước.

    Xứ Đoài xưa, hay còn gọi là trấn Sơn Tây hoặc trấn Hưng Hóa, là miền quê có nhiều ngôi đình nổi tiếng của người Việt cổ. Đình Đoài mang dáng vóc kiến trúc kỳ vĩ, ý nghĩa tâm linh sâu sắc.

    [​IMG]
    Hoa văn trên mái đình

    Theo cuốn Di tích lịch sử Hà Tây, thì trên địa bàn toàn tỉnh có 820 ngôi đình đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa.
    Những ngôi đình này phần lớn được xây dựng vào thế kỷ 17 và 18 như các đình: Chu Quyến, Quang Húc, Phú Hữu, Phú Xuyên, Đông Viên, Viên Châu, Phượng Châu, Cộng Hòa thuộc Ba Vì, Tường Phiêu, Mông Phụ thị xã Sơn Tây, Đại Phùng Đan Phượng, Cấn Hữu và đình So Quốc Oai… Nhân dân nơi đây thường truyền nhau câu “Đẹp đình So, to đình Cấn”. Đình So đẹp cả vị trí: Có sông trước mặt, có núi đất sau lưng quanh năm xanh mát. Nội thất ngôi đình rất quý hiếm, còn nguyên nét cổ xưa.

    Giáo sư Trần Quốc Vượng lúc sinh thời đã khẳng định: Đình cổ nhất cả nước có năm ngôi thì Hà Nội chiếm cả năm. Riêng Ba Vì có đến ba ngôi, đó là: Đình Tây Đằng, đình Thanh Lũng và đình Thụy Phiêu. Ba ngôi đình này đều xây dựng vào đầu thế kỷ 16 dưới thời nhà Mạc. Vật liệu xây dựng hoàn toàn bằng gỗ mít và gỗ thông đỏ. Đền Chèm thuộc huyện Từ Liêm xây dựng trên 1.000 năm, cung Quảng Văn phố Cửa Nam xây dựng vào thời Lê sơ. Nhưng hai công trình này phải đến triều Mạc Đăng Doanh mới được hoàn thiện thành ngôi đình.

    Vùng núi Ba Vì nơi có đền thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn, người là Sơn Tinh đánh bại Thủy Tinh trong truyền thuyết “Sơn Tinh – Thủy Tinh”. Ngài dạy dân biết chế ngự thiên nhiên, đắp đê phòng lụt, gieo trồng cấy lúa, phát triển sản xuất, đánh giặc ngoại xâm. Ngài là Đức Thánh Tổ của nền văn minh lúa nước, là Vua Thần Nông trông coi việc nhà nông trên Thiên Đình. Người được nhân dân cả nước tôn thờ Đệ Nhất Phúc Thần. Các đình làng ở hầu hết trong huyện Ba Vì cũng như trong vùng đất xứ Đoài xưa phần lớn suy tôn Ngài là Thành Hoàng Làng để thờ cúng và tỏ lòng thành kính, tri ân.

    Đình Tây Đằng – Một di sản kiến trúc văn hóa còn mãi với thời gian
    Là một trong những ngôi đình cổ nhất Việt Nam, Đình Tây Đằng đã ngót 500 năm tuổi, được xây dựng vào thời nhà Mạc năm Đại Chính nhị niên (1531). Ngôi đình thờ Đức Thánh Tản Viên Đệ Nhất Phúc Thần. Toàn bộ khu đình nằm trên một khuôn viên rộng lớn, thoáng đẹp, hướng Nam mé Tây trông về đền Đức Thánh Tản trên núi Ba Vì. Đi qua cổng chính ta bắt gặp một hồ nước lớn, nơi giao hòa giữa trời cha đất mẹ dâng đầy linh khí. Tiếp đến là nghi môn, gồm bốn cột đồng trụ, hai cột thấp bên trên có hai nghê chầu, hai cột cao, bên trên mỗi đầu cột có bốn chim phượng uốn lượn vút lên như một bông hoa dành dành, thể hiện thế nghiêm thiêng của ngôi đình. Hai phía bên phải và bên trái là tả vu và hữu vũ. Hạng mục công trình này nhằm làm những công việc chuẩn bị cho việc khánh tiết. Nhà tả vu và hữu vu đã bị đổ nát từ lâu, mãi đến khi tiến hành trùng tu ngôi đình thì mới được dựng lại. Đầu hồi phía phải của ngôi đình là một giếng cổ, nguồn nước đá ong bốn mùa trong xanh. Giếng này trước đây nằm ngoài hàng rào của khuôn viên đình, nay mới được đưa vào trong, làm cho ngôi đình càng thêm linh diệu hơn. Sau nghi môn là một sân rộng, nơi tổ chức lễ hội vào dịp xuân về hoặc những ngày cúng tế.

    [​IMG]
    Giếng nước cổ ở đầu hồi bên phải Đình Tây Đằng

    Hai bên sân có tả mạc, hữu mạc dẫn vào đại đình. Trước đây, thềm đại đình chỉ cao khoảng 40 cm đủ một bước chân, sau khi trùng tu, thềm đã được nâng thành bậc tam cấp cao 75cm. Sàn đình rộng 360m2, được bố cục kiểu 3 gian với sáu hàng cột: Hai cột cái, hai cột quân và hai cột con, đó cũng là nét đặc trưng của những ngôi đình cổ. Tất cả các cột đều theo lối “thượng thu hạ thách” kiểu dáng bông đòng đòng, “ngồi” trên chân tảng đá ong. Tất cả các cột quân và cột con đều có xu hướng choãi ra, tạo thế mở rộng vùng chân đế và hạ thấp trọng tâm của ngôi đình nhằm tăng độ ổn định, bền vững cho công trình. Đỡ thượng lương là giá chiêng chồng rường kiểu “chồng nhị”. Gian chính giữa đình là bàn thờ Đức Thánh có cửa võng, y môn, lọng che, hai giàn bát bửu và đôi hạc chầu. Gian thờ quanh năm đóng cửa, trừ những ngày lễ hội, nhưng do đông khách thăm viếng nên gian thờ lúc nào cũng nghi ngút khói hương, không khí thật trang nghiêm! Các gian hai bên còn lại được bố trí sạp ngồi của các quan viên trong những ngày lễ hội hay khi việc làng. Kết cấu được giữ nguyên theo kiểu nhà sàn của người Việt cổ vùng sơn cước. Khác biệt của đình Tây Đằng so với các ngôi đình còn lại là không có ván thưng xung quanh, nhờ đó công trình trở nên thông thoáng hơn và bền vững với thời gian. Do đình thấp nên người Việt cổ đã chọn kết cấu rất sáng tạo, mặc dù không có quá giang: Liên kết cột cái với cột cái là câu đầu, cột cái với cột quân là xà nách. Trên xà nách là chồng rường tạo độ dốc cho mái. Kẻ liền bẩy kéo dài từ cột quân vươn dài đến tàu mái. Hệ thống xà thượng, giằng đầu các cột cái, cột quân và cột con lại với nhau theo chiều dài của ngôi đình. Cột con đỡ thẳng vào bẩy không qua ngàm, như vậy tạo cho bẩy không bị tiết diện giảm yếu khi liên kết với cột con làm cho công trình vững chắc hơn. Bí quyết để cấu trúc công trình được ổn định và bền vững là ở chỗ dùng mộng thắt đuôi én, ngoàm và nêm chắc đầu cột cũng như các cột quân, cột con choãi chân thang ra ngoài. Do đặc tính của công trình như vậy nên ngay cả sau khi đã tháo toàn bộ sạp và các xà chân cột, công trình hoàn toàn không suy xuyển gì, vẫn vững vàng cùng năm tháng.

    [​IMG]
    Một số họa tiết trang trí gỗ trên vỉ kèo Đình Tây Đằng

    Đình Tây Đằng có tới 1.300 họa tiết được chạm khắc hết sức tinh xảo, đậm nét tài hoa của những con người làm ra nó. Nét đặc biệt có một không hai của ngôi đình này là không một chi tiết nào giống nhau, từ họa tiết kẻ liền bẩy bốn góc, kẻ liền bẩy vì chính, đến các đầu dư đầu duôi, xà thượng, các chồng rường, bát đỡ, câu đầu, chếnh xối, ván nong… đều là những tác phẩm nghệ thuật kiệt tác. Mỗi hoa văn một kiểu, các họa tiết hoa văn mang tính đặc sắc của các vùng miền văn hóa khác nhau như: Họa tiết người nông dân trồng cấy lúa của vùng đồng bằng Bắc Bộ, quăng chài bắt cá của vùng sông nước miền duyên hải, đua thuyền của Nam Bộ, chơi đàn tính của đồng bào Tày Nùng, voi chầu của vùng Tây Nguyên, ngựa hý của vùng cao, đấu vật kéo co trong ngày lễ hội mang màu sắc dân gian, cá vượt vũ môn hóa rồng, bộ tứ linh, trời mây hoa lá rất phong phú, có tới vài chục nữ thần cưỡi mây bay lượn trên bầu trời. Các nữ thần được bố trí trên các đầu duôi khắp bốn phía sát mái đình, hình tượng các nữ thần đầu quấn khăn như những Apxara, cũng với hình tượng Bà Banh mang ý nghĩa phồn thực đậm phong cách của các nghệ nhân Chămpa. Nghệ thuật Chămpa không chỉ thấy riêng ở đình Tây Đằng mà còn gặp ở đình Yên Bồ cũng gần đấy. Bà Banh đình Tây Đằng đặt ở con chồng nằm trên vị trí xà nách. Bà Banh ở đình Yên Bồ đặt trên giữa thượng cung, phía trước bài vị Thành Hoàng làng, gây một cảm giác tín lễ của phong tục Chăm, cùng với chiếc gậy hỉ. Khi người nào hiếm con trai đều đến xin cầu tự ở đây. Ông Từ làm lễ cúng Thành Hoàng xong, người chồng cầm gậy hỉ chọc vào khe linh của Bà Banh ba lần. Sau chín tháng mười ngày là đạt được linh ứng. Thể thức tín ngưỡng này giống như Linga và Yoni nguyên bản vùng tháp Chàm và Tây Nguyên.

    [​IMG]
    Một số mẫu điêu khắc

    Năm 2005, Bộ Văn hóa đã chủ trì việc trùng tu ngôi đình. Cột gỗ mít và thông đỏ được thay thế bằng gỗ lim, các chân tảng bằng đá ong được thay bằng đá xanh. Chỉ còn một vài cột cái, cột quân và một phần cột con là cố giữ lại. Các họa tiết đặc biệt quý hiếm của đình Tây Đằng vẫn được bảo tồn nguyên giá trị vốn có. Việc trùng tu đã đảm bảo kĩ thuật tốt, đảm bảo độ vững chãi của ngôi đình. Tiếc rằng, toàn bộ các cột được thay thế chỉ giữ lại được phần thượng thu hạ thách, còn dáng kiểu bông đòng đòng thì đã không còn, nên phần nào xa cách với di sản xưa. Bốn trụ đăng nghi môn cũng chỉ giữ lại được phần trụ lớn về phía bên phải của ngôi đình. Đỉnh trụ bốn góc chạm bốn con phượng uốn lượn thành bông hoa dành dành. Dáng trụ thanh thoát và nghệ thuật rất tinh xảo tiếc rằng, trụ lớn phía đối diện và hai trụ con hai bên đắp còn thô lược. Hậu thế không thể bắt trước được Tiền nhân.

    Đình Tây Đằng là một tác phẩm nghệ thuật kiến trúc văn hóa đặc biệt độc đáo, đầy ắp các di vật quý giá cả về văn hóa vật thể lẫn phi vật thể của ông cha. Với những giá trị văn hóa, kiến trúc, chạm khắc, tài hoa, sống động, đình Tây Đằng như một bảo tàng nghệ thuật của thế kỷ 16 và là di sản văn hóa kiến trúc độc nhất vô nhị của tổ tiên ban tặng cho các thế hệ con cháu muôn đời sau. Hãy biết bảo tồn, tôn tạo và gìn giữ di sản đặc biệt quý giá này.
     
    Seo 1976, thao96pb, giadinh5t6 others thích điều này.