Tổ Tôm Trong Dân Gian

Thảo luận trong 'Tổ Tôm Sân Đình' bắt đầu bởi Cụ Chánh bá, 26/1/12.

  1. Cụ Chánh bá

    Cụ Chánh bá Lý trưởng

    Cái Thú Tổ Tôm

    Nhiều người lấy làm lại cứ hỏi nhau tại làm sao ông nghị Đào độ này thích tổ tôm thế.
    Kể cũng lả việc quái gở thực? Vì xưa nay ông ấy chúa ghét đánh bạc. Đến ngay như lũ trẻ nhà ông ấy ngày tết, túm tụm lại, đánh tam cúc một xu bốn cây với nhau, mà ông cũng cấm nữa là?
    Còn ông, thì đố ai thấy ông chầu rìa một đám bạc nào. Ông thường nói:
    - Đánh bạc, vừa hại tiền, vừa hại thì giờ, vừa hại sức khoẻ. Nhà nào mà bố mẹ hay mê man cờ bạc, thì con trai hư đằng con trai, con gái hư đằng con gái. Chẳng thế, cứ bắc kiềng lên lưng tôi mà đun!
    Thế mà sau khi ông goá vợ được vài tháng, thì ông mê tổ tôm như điếu đổ.
    Có người bảo ông mới được làm nghị viên, nên học cách giao thiệp. Nhưng đánh tổ tôm nào phải cách giao thiệp? Vả ngày hội đồng dân biểu họp nào có phải các ông nghị đến hội quán Khai Trí Tiến Đức để đánh tổ tôm đâu?
    Vậy thì chắc rằng bà nghị mất, ông đâm buồn. Buồn thì phải tìm cách tiêu khiển. Rượu không biết uống, phiện không biết hút, gái không biết chơi, thì ông có thỉnh thoảng đánh canh tổ tôm, có hại gì? Không hại nhất, là ông chưa có con trai hay con gái lớn.
    Tổ tôm, ông mới học hơn một tháng. Nhưng ngay từ lúc mới học, ông đã dám ngồi một chân. Ông chỉ đánh ở nhà cụ Chánh Bá. Ở chỗ khác, dù có lập cuộc tổ tôm mà thiếu một chân, thì giá họ có mời rã bọt mép, cũng không khi nào ông ngồi đánh. Có lẽ vì ông không chịu tiếng bê tha chăng
    Nhiều lúc, ông sang nhà cụ Chánh Bá, rồi cho người đi mời con bạc đến. Có khi cụ Chánh Bá không tiền ông cũng cố ép cho vay để cụ đánh. Nhưng không mấy khi ông nhớ nợ. Cụ Chánh Bá muốn để đến bao giờ ông cũng không nhắc đòi.
    Vậy mà ông chỉ đánh bạc để cầu vui thôi, chứ không mấy khi ông ngồi nóng chỗ. Ông cầm bài độ dăm bẩy ván, khi đã góp tiền đâu vào đấy, là ông mượn người đánh hộ. Rồi hoặc về nhà, hoặc đi có việc đâu một lúc lâu mới lại đến. Làng để ý vào cây bài quá, nên không ai hỏi nhau xem ông đi đâu.
    Người ta, mà nhất là những người được ông nghị Đào nhờ cầm bài hộ, đều tỏ ý khen ông về lối chơi nhã nhặn, quân tử như thế. Họ khen. Vì họ muốn ông giữ mãi cái thói quen dễ chịu ấy. Người thì được đánh bạc không phải góp tiền, mà vì ông không hỏi căn vặn được thua bao nhiêu, nên họ đễ ăn bớt. Người thì được thông lưng nhau, đề một mình ông bị thiệt, vì họ coi ông như con bò!
    Thực ra, chơi cái lối đánh tổ tôm cung phụng ấy, ông nghị Đào còn là mất chán tiền! Mà không chịu học đánh luôn luôn, thì còn xơi ông mới cao được. Ai lại ngay bây giờ, ông còn phải hỏi thế nào là lèo, cửu vạn, cửu sách và chi chi có là lưng không. Mà nào ông đã thuộc chữ quân bài đâu? Cứ đưa ông một quân, bịt kín chỗ vẽ đi, hỏi là quân gì, đố ông có biết?
    Cho nên, tuy ông lên bài rất chậm, ăn hoặc phỗng nhiều lúc rất lẩm cẩm, nhưng ai cũng cố kiên gan mà khen. Họ khen ông rằng:
    - Đánh với ông nghị bao giờ cũng vui quá.
    - Họ vui vì họ chắc mẩm phần được. Dù không ù cũng được mười mươi.
    ***
    Cũng như mọi bận, những anh con bạc túng tiền đã tề tựu cả ở nhà cụ Chánh Bá để chờ ông nghị Đào đến nữa là vừa đủ chân.
    Anh người nhà đã chia sẵn bài, và bầy cả vào hỏi cái khay. Anh ta đã chẻ ít đóm, và làm đèn cẩn thận.
    Cô Xuyến, con cụ Chánh Bá đã xếp đầy một cơi trầu để chờ khách. Xong việc, cô đương ngồi ngoài hiên, ghé vào ánh sáng ngọn đèn, mà xâu những hào trinh.
    Mới mười chín tuổi đầu, nhưng cô Xuyến giỏi lắm. Thường cô đi chợ đi búa các nơi; buôn bán rất đảm đang, ai cũng khen. Nhiều anh con trai làng, thấy cô có sắc lại có vốn muốn hỏi cô làm vợ để được cưới cả cô lẫn cái vốn của cô. Nhưng cụ Chánh Bá còn kén kỹ lắm. Cụ không thích gả cho người làng, vì cụ xem chả cậu nào đáng mặt vác áo thụng đến làm rể cụ. Họ đều nghèo, và con nhà tầm thường cả. Cô Xuyến nhà cụ tiếng rằng ngày thường vẫn áo nâu, quần lụa, đi đất trông có vẻ nhà quê, nhưng ngày tết, thì cô ăn mặc sang nhất tổng. Cái khăn gấm tây, cái áo cát-sơ-mi hoa, cái quần lĩnh bóng, đổi dép Nhật Bản, và bộ dây xà tích dài đến tận đầu gối. Cứ cách ăn mặc thế, thì cô Xuyến phải lấy một anh chồng ít ra là có bằng Sết-ti-vi-ca. Huống hồ cô còn có vốn riêng, lại là con gái lớn của một ông Chánh tổng cựu, có hàm cửu phạm bá hộ thì ít ra ông bố cũng phải thách đến dăm trăm là ít.
    Thêm một ván cung Tổ nữa là sáu, mọi người bỏ tiền ra góp. Ông nghị Đào tuy không ù được ván nào, nhưng rất vui vẻ. Xưa nay, chưa ai hề thấy ông thua bạc mà phát bẳn bao giờ. Ông quăng hai tờ bạc giấy vào giữa rồi hỏi cụ Chánh:
    - Thế nào? Cụ có tiền chưa?
    - Có ông để tôi bảo cháu lấy.
    Rồi cụ Chánh gọi cô Xuyến:
    - Cho thầy vay hai đồng, mày!
    Cô Xuyến tưới như cái hoa, đứng cạnh đèn, đếm tiền. Nhưng tiếc thay, cái hoa đẹp ấy lại không có ai thưởng thức. Vì ai cũng hai mắt đổ dồn cả vào hai quân bài bắt cái.
    Bỗng ông nghị nghiêm chỉnh, ngấc đầu lên, hỏi:
    - Có đủ không, cô?
    - Dạ, bẩm đủ ạ. May, con vừa đòi được món nợ.
    Đoạn cô đưa cụ Chánh nhón tiền, rồi đi vào. Mọi người giao hẹn phần của mình góp xong xuôi, quân bài bắt đầu đen đét xuống chiếu tiến, rồi lui, rồi lại nhẩy rải rác khắp chỗ nọ, chỗ kia.
    Rồi ù, rồi lấy tiền. Rồi ván này. Rồi ván khác. Ông nghị Đào đã thấy chán, ông ngáp. Rồi ông gọi:
    - Anh nào cầm bài hộ tôi tý này.
    Họ đã thuộc tính, nên bao giờ cũng có vài anh dự khuyết, chực sẵn cả ở sau lưng ông. Ông đứng dậy, nhìn bài một lúc, bàn quân ăn quân đánh, hỏi nước thấp nước cao. Rồi một lát, ông không nói, đứng im. Rồi ông sang gian bên, hút thuốc, uống nước. Rồi ông ra hè, thỉnh thoảng nói vào một câu để đánh tiếng. Rồi im hẳn.
    Trong khi ấy, cả làng không ai chú ý đến ông nữa.
    Ai cũng để cả tâm trí mải vào cây lục vạn, tam sách, ăn năm binh, hay bốc tốt cho cao.
    - Cụ chịu à?
    - Vâng, đen quá. Hết hội này, tôi phải đổi chỗ mới được. Đánh tổ tôm mã không được ù, bài xấu, thì chán chết. Không trách ông nghị hay đứng dậy cũng phải.
    - Vâng, cụ đổi chỗ cho cháu!
    - À? Để tôi bảo nó pha ấm nước chè tàu, uống cho tỉnh ngủ nhé.
    Dứt lời cụ Chánh Bá, anh người nhà thưa:
    - Bẩm nước đương đun dưới bếp ạ.
    - Càng hay, anh sắp ấm chén để tôi pha cho.
    Nói xong, cụ Chánh đứng dậy, vườn vai, gân tay chân kêu răng rắc.
    - Chà? Giãn thịt giãn xương! Đem khay chè ra đây tôi xuống bếp mang nước sôi lên hộ. Hoài của, giá đừng chịu thì vừa rồi được cái phỗng!
    Rồi không tiếc nữa, cụ Chánh Bá mở cửa ra ngoài cầm đèn xuống bếp:
    - Ừ, ra lúc mỏi mà được đi đi lại lại thì nó khoan khoái lắm nhỉ.
    Nhưng thấy trong bếp lừa tắt ngấm tắt ngầm, cụ hỏi to;
    - Đun thế kia thì đời nào nước sôi? Con Xuyến đâu rồi!
    - Dạ!
    - Mày ở đâu?
    - Thưa thầy, con ở trong bếp này.
    - Sao không đun quàng nước lên. Lại để tắt lửa thế?
    - Nó vừa mới tắt, con thổi mãi không được.
    Cụ Chánh Bá bước vào cạnh ông đồ rau, gắt:
    - Rơm không có thì mày đun bằng gì?
    Cô Xuyến cuống cuồng, chổng mông lên, cố thổi đống tro tắt ngấm tắt ngầm.
    Cụ Chánh đặt đèn xuống, mắng con:
    - Mày lười, có khi nào được. Chỉ tố hết hơi mà thôi. Để tao rút rơm cho vậy.
    Nói đoạn, cụ đi ra mé đống rơm gần đó.
    Bỗng trong chỗ tối cụ thấy lù lù có cái bóng đen đen.
    Vừa ngạc nhiên, vừa sợ, cụ giật mình, hỏi:
    - Ai?
    - Tôi đây, cụ Chánh đấy à?
    - À ông nghị đấy à? Ông đứng đây làm gì thế?
    Rồi chẳng hay cụ Chánh thương ông nghị đã phải đứng chơi ngoài sương tối tăm không biết tự bao giờ hay sao, cụ đủng đỉnh nói:
    - Mời ông lên nhà xơi nước chứ?

    Vậy xin độc giả đoán nét mặt ông nghị Đào tôi bấy giờ thế nào. Và ông có lên nhà xơi nước hay không?

    Tác giả : Cụ Nguyễn Công Hoan
     
  2. Mod14

    Mod14 Administrator Ban quản trị

    Giai thoại kể rằng: năm đó vì bắt lỗi vua Tự Đức trong lúc chơi Tổ Tôm mà Cao Bá Quát làm vua bị mất mặt (quê độ). Về sau Cao Bá Quát bị tội gian lận trong chấm thi, bị vua tăng án rất nặng. Ngọn nguồn cũng chẳng qua ông là quan chấm thi, thấy bài của học trò kia hay quá mà lại trót phạm phải mấy chữ kị húy, nếu đúng ra sẽ bị hủy bài, ông liền dùng muội than và son chữa lại mấy chữ đó. Không ngờ sự việc bị phát giác, nhà vua ban tội nặng, trong lúc giam còn bị nhục hình tra khảo. Ông ôm hận cho rằng vua vì việc bài bạc xưa mà phán xử bất công , sau ông chạy về Bắc tụ tập hào trưởng nghĩa sĩ làm phản...

    upload_2017-9-21_9-58-53.

    Vào xem họ nói gì về câu chuyện này?
     

    Các tệp đính kèm:

  3. hoangkhaisale01

    hoangkhaisale01 Dân đen

    Cám ơn rất nhiều vì bạn đã chia sẻ
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  4. dinhchip

    dinhchip Chánh tổng

    Văn hay, nhiều chữ, truyền rằng ngày đó cả nước có một bồ chữ thì ông Quát chiếm nửa bồ, anh ông là ông Cao Đạt chiếm nửa của nửa còn lại, nghĩa là chỉ có 1/4 bồ chữ đó dành cho sỹ tử cả nước thôi. Nhưng tính lại khái, cao ngạo.
    Còn việc ông làm phản thì khó mà nói cho trọn.
    Người quân tử, chứ chưa biết có tài hay ko, là ăn lộc vua thì phải thờ vua cho trung, ông làm quan chấm thi thì phải chấm cho công minh. Những ngừoi được ông giúp sửa bài đó, nếu trót lọt, thi đỗ, bổ quan mà hà hiếp dân thì ông có lỗi ko nào?
     
  5. dinhchip

    dinhchip Chánh tổng

    Câu đối trứ danh của ông Quát,
    "Thập tải luân giao cầu cổ kiếm.
    Nhất sinh đê thủ bái mai hoa".
    Tạm dịch:
    "Kết bạn trong mười năm khó như tìm báu kiếm.
    Cả đời ta chỉ cúi đầu bái lạy trước hoa mai."
    Câu đối này đã nói lên tất cả tính cách, chí khí của ông Quát.
     
    Mod01, Nguyễn Tiểu Thươngchilatrochoitt thích điều này.
  6. thagnhok381z

    thagnhok381z Dân đen

    đã xem oke men , ae thấy sao nào !!!!
     
    mod23 thích điều này.
  7. - MỘT GÓC NHÌN KHÁC

    Chữa bài tội trảm, án ba năm

    Vậy là quá nhẹ, chẳng hàm ân

    Lộc vua hưởng mãi, còn phản phé

    Đức đâu để nói chuyện quân thần

    Tượng hình chữ ấy nghìn tranh vẽ

    Chỉ có một bồ nạt chúng nhân

    Ngẫm lại tích xưa qua chuyện kể

    Tài ấy, tội kia phải “Tru Thần”?...


    :):):)=))=))=)):x:x:x
     
    dinhchip, Mod01, Mod061 người khác thích điều này.
  8. CHỈNH SƯA TỪ, THÀNH NGỮ TỔ TÔM TK 20 CHO GAME ONLINE

    ·

    TỪ VIẾT TẮT:

    -TT: Tổ Tôm.

    -ĐT: đấu thủ(tức người chơi Tổ Tôm).

    -TTSĐ: Tổ Tôm Sân Đình, chơi trên Internet.

    -LT TTSĐ: Lập Trình TTSĐ.

    -TT5: Tổ Tôm Bí Ngũ.

    1- TỔ TÔM: tên gọi cỗ bài lá hiện nay chỉ có người Việt Nam chơi.

    a-Tên Gọi: Từ Tổ Tôm các cụ suy đoán có thể là biến thể của từ Hán-Việt “tụ tam”. “Tụ Tam” là tổ hợp nhỏ nhất(gọi là 1 phu bài) gồm 3 quân bài.

    b-Nguồn gốc: Theo tiền nhân, Tổ Tôm được người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ chơi cách đây khoảng 300 năm.Từ hình vẽ có trang phục mang phong cách người Nhật và chữ viết là chữ Hán cách điệu, tiền nhân không xác định rõ nguồn gốc xuất xứ của trò chơi này. Tuy vậy, biết rằng lúc đó người Kinh chỉ thạo dùng chữ Hán và hiện nay còn mỗi người Việt chơi, nên có thể khẳng định Tổ Tôm có xuất xứ Việt Nam.Tài liệu văn bản của người Nhật, người Hoa cũng không xác nhận Tổ Tôm là trò chơi của họ.

    c-Kết luận: Tổ Tôm là trò chơi bài lá dân gian của người Việt, phổ biến đến ngày nay chỉ có người Việt Nam chơi. Do vậy Tổ Tôm là một tài sản “Văn Hóa Phi Vật Thể” của người Việt mà chúng ta nên gìn giữ, lưu truyền.


    2-BỘ BÀI TỔ TÔM: gồm có 120 lá bài. Cứ bốn lá bài giống hệt nhau, tạo ra một quân bài được phân biệt bởi số và chất.

    a-Có 9 hàng số 1,2,3,4,5,6,7,8,9(nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu). Thực ra có ba Quân Yêu Đỏ: Chi Chi, Ông Cụ, Thang Thang có thể coi là hàng số 10, dùng làm số đếm khi bắt cái đầu hội.

    b-Có 3 hàng chất Văn, Vạn, Sách. Kinh nghiệm để nhớ thứ chữ tượng hình rắc rối của các cụ truyền lại là: “VẠN VUÔNG, VĂN CHÉO, SÁCH LOẰNG NGOẰNG”.

    c- Ngoài ra có 3 quân đặc biệt, hay gọi là Yêu Đỏ: Chi Chi, Thang Thang, Ông Cụ.

    d-Bạn hãy mua một Bộ Bài Tổ Tôm để tìm hiểu, nhận biết 120 lá bài này.


    3-CHƠI TỔ TÔM: Bộ Bài Tổ Tôm dùng để chơi bốn trò: Tổ Tôm Bí Ngũ, Tổ Tôm Bí Tứ, Tài Bàn(chính là Tổ Tôm Bí Tam) và Chắn(chỉ dùng 100 quân, bớt đi 3 quân Yêu Đen: Nhất Văn, Nhất Vạn, Nhất Sách và 2 quân Yêu Đỏ: Thang Thang, Ông Cụ).Chơi Tổ Tôm cần có 1 bộ bài, đĩa đựng Nọc, 3 cái Chén Bất Thực.

    a-TỔ TÔM BÍ NGŨ: 120 lá bài chia đều thành 6 phần, mỗi phần 20 lá bài. Một phần để vào đĩa làm Nọc, bớt đi một lá bài cho người có cái.SÂN ĐÌNH đang làm phần mềm cho Tổ Tôm Bí Ngũ(Ngũ được hiểu là có 5 phần bài dành cho người chơi).Bài viết này cũng chỉ tập trung trao đổi về trò chơi Tổ Tôm Bí Ngũ, sau đây viết tắt là TT5. Bài Ù Bí Ngũ: điều kiện là tròn bài và ít nhất có 1 Lưng.

    b-TỔ TÔM BÍ TỨ(TT4): 120 lá bài chia đều thành 5 phần, mỗi phần 24 lá bài. Một phần để làm Nọc cũng bớt 1 lá bài cho người có cái. Bí Tứ được hiểu là có 4 phần bài dành cho người chơi và 1 phần Nọc. Bài Ù Bí Tứ: điều kiện là tròn bài và ít nhất có 2 Lưng tách rời.

    c-TÀI BÀN(có thể gọi là Tổ Tôm Bí Tam là TT3): 120 lá bài chia đều thành 4 phần, mỗi phần 30 lá bài. Một phần để làm Nọc cũng bớt 1 lá bài cho người có cái.Tài bàn Ù: điều kiện là tròn bài và ít nhất có 9 Lưng(có cả Lưng Ghép, Lưng Tài).

    -TT3 phân biệt với trò chơi Tổ Tôm khác ở chỗ: có 3 người chơi,Ù cần nhiều lưng hơn và đánh được cả phu đi.

    d-CHẮN: bớt đi 20 quân bài Yêu (Nhất Văn, Nhất Vạn, Nhất Sách, Thang Thang, Ông Cụ) còn 100 lá bài chia đều làm 5 phần, mỗi phần 20 lá bài. Mỗi phần chia bớt 1 lá để vào đĩa Nọc. Một phần để làm Nọc, bớt ra 1 lá cho người có cái. Vậy nhà cái có 20 lá bài, 3 nhà khác có 19 lá bài, Nọc có 23 lá bài. Chắn Ù: điều kiện là tròn bài và ít nhất có 6 chắn.

    -Một số vùng chơi cả Chắn Bí Ngũ(năm phần chơi, dùng cả 120 quân bài).

    d-ĐẤU THỦ:

    d1: người chơi Tổ Tôm ta gọi là Đấu Thủ (sau đây viết tắt là ĐT). Nếu đủ chân, TT5 sẽ có 5 ĐT, Bí Tứ sẽ có 4 ĐT, Tài Bàn sẽ có 3 ĐT, Chắn sẽ có 4 ĐT.

    d2: Người xưa còn gọi ĐT bằng các tên khác: CHÂN ,TAY, CỬA, NHÀ...

    d3: Nhiều vùng gọi chung các ĐT tham gia ván bài là “LÀNG”, nên hay dùng từ “TRÌNH LÀNG”, “CHIẾU LÀNG”, “XIN LÀNG”, “LỆ LÀNG”, “HỎI LÀNG”...

    -P/S: hay TT SĐ gọi các người chơi Tổ Tôm là TỔ THỦ cho oai.


    4-Ù:

    a-TT5 Ù khi bảo đảm điều kiện: TRÒN BÀI + CÓ LƯNG +QUÂN Ù hiện.

    b-Đấu Thủ trong chiếu TT(sau đây viết tắt là ĐT) Ù với 1 lá bài khi có ĐT khác đánh ra hoặc mở nọc.

    c-Có hai trường hợp đặc biệt là THIÊN Ù hoặc Ù với thiên khai khi động nọc.

    d-Ù là nước bài đặc biệt. Khi Ù người ta không hồi tố với các nước bài trước đó.

    e-BÀI Ù: Bài Ù đủ 21 quân, không còn quân rác nào và có lưng.


    5- TRÒN BÀI: như mọi trò chơi bài lá khác, người ta sắp xếp các lá bài thành các tổ hợp, trong TT gọi là Phu. Khi bài của ĐT không còn quân rác(mọi lá bài đều nằm trong phu) thì gọi là TRÒN BÀI.


    6-PHU BÀI: khi chơi Tổ Tôm, các ĐT sắp xếp lá bài khi ăn , khi đánh thành các PHU BÀI: có 4 loại Phu Bài.

    a-PHU BÍ: là tổ hợp ít nhất 3 lá bài khác chất, cùng số. Ví dụ: 3 văn + 3 vạn + 3 sách.

    -Theo lối chơi mới của Sân Đình, Phu Bí tối đa có tới 12 lá bài. Ví dụ Bí Tam: 4 lá 3 văn + 4 lá 3 vạn + 4 lá 3 sách.

    b-PHU DỌC: là tổ hợp ít nhất ba lá bài cùng chất, có số liên tiếp nhau. Ví dụ: 3 văn + 4 văn + 5 văn.

    -Phu Dọc tối đa có tới 9 lá bài liên tiếp. Ví dụ: 1 văn...2,3,4,5,6,7,8,9 văn.

    c-PHU YÊU: bất kỳ quân Yêu nào, dù đứng một mình, cũng được coi là 1 Phu, không phải Quân Rác.

    -Sáu Quân Yêu: 1 văn, 1 vạn, 1 sách, chi chi, thang thang, ông cụ.

    d-PHU LƯNG: Tổ Tôm khi Ù ngoài điều kiện tròn bài, còn phải có Lưng. Có chín tổ hợp Phu là Lưng khi chơi Tổ Tôm:
    d1: Lưng Tôm: Tổ hợp 7 văn + 3 vạn + 3 sách.

    d2: Lưng Lèo: Tổ hợp chi chi + 9 vạn + 8 sách.

    d3: Lưng Sườn(từ xưa các cụ gọi là Bí Sườn): 8 văn + 2 vạn + 2 sách.

    d4: Lưng Yêu Đỏ 1: thang thang + 9 vạn + 9 sách(Lưng yêu Đỏ Đơn).

    d5: Lưng Yêu Đỏ 2: thang thang + ông cụ + 9 sách(Lưng Yêu Đỏ Kép).

    d6: Lưng Yêu Đen 1: 1 văn + 2 văn + 3 văn(Lưng Yêu Đen Đơn).

    d7: Lưng Yêu Đen 2: 9 Văn + 1 Vạn +1 Sách(Lưng Yêu Đen Kép).


    d8: Lưng Trùng Tam: Phỗng (ăn Phỗng được trong ván chơi) + Khàn: là Phu gồm 3 quân giống hệt nhau: như phỗng 3 văn, hoặc Khàn 3 văn Úp.

    d9: Lưng Trùng Tứ: Khàn Dậy(ăn được trong ván chơi) + Thiên Khai: là Phu gồm 4 quân giống hệt nhau như Khàn 3 văn dậy hoặc Thiên Khai 3 văn Úp.

    -P/S: khi chơi Tài Bàn, còn có các LƯNG GHÉP, LƯNG TÀI ta không đề cập ở đây.

    e-PHU TRÒN: thực ra chính là PHU BÀI hoàn chỉnh; một tổ hợp tối thiểu 3 quân bài “TỤ TAM TỬ ĐẮC THÀNH NHẤT PHU”.

    f-PHU TRÊN TAY: các PHU có trên tay kể cả Yêu, làng chỉ biết khi HẠ Ù. Khi cần thiết, ĐT có thể đánh xén quân bài trong Phu Trên Tay.

    g-PHU DƯỚI CHIẾU: các PHU ĐT trình với làng dưới chiếu. Yêu, Khàn Úp hay Thiên Khai Úp để dưới chiếu nhưng kín với làng, vẫn thuộc Phu TRên Tay. Đánh quân bài thuộc Phu Dưới Chiếu hoặc xếp bài BẤT THÀNH PHU dưới chiếu sẽ bị Báo.

    h-CẠ, DẬP DÒM: là Phu Thiếu, chưa tổ hợp đủ 3 bộ phận. Ví dụ Cạ 3(3 vạn, 3 sách) còn thiếu 3 văn mới tạo thành Bí Tam. Cũng gọi là Dập Dòm 3, thiếu 3 văn.

    -CẠ còn một nghĩa hẹp là chỉ ĐT khác cùng trong bàn chơi, khi người ta nói “HỢP CẠ”.



    7-QUÂN BÀI: ta gọi Quân Bài thay cho LÁ BÀI, CÂY BÀI cho quen thuộc.

    a-QUÂN TRÔI: là Quân Trong Phu gồm có 4 loại

    a1: Quân Trôi trong Phu Trên Tay:quân có trong các tổ hợp Phu tròn trên tay. Có thể đánh xén Quân Trôi trong Phu Trên Tay vào trường hợp cần thiết.Phu Trên Tay là Phu có đầu tiên nên Quân Trôi của nó là Quân Trôi có trước,có đầu tiên khi làng phân xử Quân đến Trước, Quân Đến Sau lúc ăn, đánh.

    a2: Quân Trôi trong Phu Dưới Chiếu:quân có trong các tổ hợp Phu tròn ăn dưới chiếu. Không được đánh Quân Trôi trong Phu Dưới Chiếu.

    a3: Quân Trôi trong Phu Ẩn: quân có trong các Phu tổ hợp từ Khàn, Thiên Khai chưa dậy, đang úp dưới chiếu.

    a4: Mọi quân Yêu đều là Quân Trôi.

    b-QUÂN RÁC: các Quân Bài chưa nằm trong Phu (tổ hợp đủ) đều là quân rác.

    c-QUÂN RẺ: quân bài được đánh giá cả làng đều khó ăn và còn.

    d-QUÂN ĐẮT: quân bài được đánh giá nhiều nhà khác dễ ăn, cước sắc.

    e-QUÂN Ù: quân bài người chơi Ù với nó.

    e1: Quân Ù từ mở Nọc.

    e2: Quân Ù từ người khác đánh ra.

    e3: Quân Ù từ Thiên Khai dậy khi Động Nọc.

    e4: Khi Thiên Ù, Quân Ù nhiều vùng ước định là Quân Bắt Cái.

    f-QUÂN NHÁI: cửa trên vừa có nó không ăn được, mở nọc lại hiện ra chính nó.

    g-QUÂN LÀNH BÀI: quân bài đánh ra, làng ít có khả năng Ù hay ăn, nhất là về cuối trận.

    h-QUÂN BẮT CÁI: là quân bài nhà có cái nhận được thêm khi Bắt Cái.Ở TT chiếu, do Nhà Bắt Cái tùy chọn 1 trong 2 quân thường theo qui tắc “Nhất Yêu Nhì Cửu”. Trong TTSĐ, Nhà Bắt Cái chỉ dùng 1 quân đưa vào Bài Cái, cho nên đó là Quân Bắt Cái luôn.


    i- QUÂN ĐẾN TRƯỚC:

    i1-Trường hợp ĐƠN GIẢN: quân giống hệt một quân đã đến trước không ăn, sau đến quên mất lại ăn. Ví dụ, bài lẻ 3 vạn, 3 sách; 3 văn vòng trước xuất hiện, đón Tôm không ăn, vòng sau quên lại ăn là Báo.

    i2-Trường hợp NÂNG CAO: ăn Quân đến sau có cùng chức năng với quân đến trước đã không ăn mà không có cơ sở lý giải, là Báo.

    -Ví dụ: vẫn bài trên, lẻ 3 vạn, 3 sách; vòng trước không ăn 3 văn, vòng sau lại ăn 7 văn là Báo.Nếu Hạ cả Bí Tôm xuống, lý giải 7 văn có sẵn trên tay thì được.

    i3-Trường hợp PHỨC TẠP: “Quân đến sau, Quân đến trước” không dễ thấy như 2 trường hợp 7.i1 và 7.i2, lại ẩn vào trong “Phu có trước, Phu có sau”.

    -Ví Dụ 1 : dưới chiếu ăn 4,5,6 sách; nếu phỗng 7 sách và đánh đi 8 sách là bị Báo, dù là “Ăn một đánh một”. Vì “PHu có trước” 6,7,8 sách chỉ cân đánh 7 sách là tròn bài lại bị bỏ đi để lập ra phu Phỗng 3 con 7 sách(là “Phu có Sau”) là phạm luật.Ở đây, con 8 sách trên tay là “Quân đến trước” vì nó nằm trong “Phu có trước” là 6,7,8 sách. Lệ Làng cả nước đang cho đánh thế này, là điều TTSĐ phải cân nhắc, lựa chọn.

    -Ví dụ 2: Có phỗng 2 văn,nằm trong phu 1,2,3 văn trên tay có sẵn. Phỗng 2 văn đánh đi 3 văn, lúc này chưa sao. Vòng sau 1 văn đến cửa trì, ăn và hạ 1 văn trên tay xuống vậy là Báo. Vì phu “1,2,3 văn” là “Phu có trước”.Trường hợp này, người đánh cao đành để treo tranh 1 văn trên tay không hạ. Đánh tiếp nếu Ù rồi Hạ. Làng không tinh sẽ bắt “Treo tranh 1 văn”, cho Ù Lành Làng”. Làng tinh sẽ bắt Báo lại nước bài phỗng 2 văn. Mình ủng hộ cho Ù Lành Làng vì nguyên tắc khi Ù, không hồi tố các nước bài trước.

    k-QUÂN ĐẾN SAU: theo khái niệm Quân Đến Trước, để tính ra thứ tự Quân Đến Sau. Ăn Quân Đến Sau mà đánh đi Quân Đến Trước là bị báo.
    -Quân đến sau bị bắt báo là quân giống hệt, quân cùng chức năng (nếu trong phu dọc không tính từ quân thứ tư).

    l-QUÂN KIÊNG:

    l1: Quân Kiêng đầu hội chơi, người ta kiêng đánh những Quân Bài 6 văn, 9 văn. Nhiều vùng Kiêng kỹ, cả 4 sách, 7 sách.

    l2: Quân Kiêng Cước Sắc: một số nơi người ta Kiêng Ù bài Kính Tứ Cố (bài đen tuyền chỉ có 4 Quân Ông Cụ), nhất là khi còn Tứ Thân Phụ Mẫu.

    l3: Quân Kiêng vừa Ù: quân vừa Ù cũng ít khi Nhà Cái đánh đi đầu tiên.

    m-QUÂN PHỖNG: Quân làng đánh ra hay Mở Nọc mà ĐT phỗng được. Lưu ý các Quân PHỗng Ù.

    n-QUÂN HẾT BỐN: quân bài đã hiện trên mặt chiếu đủ cả 4 lá. Không còn chờ để ăn hay ù với nó nữa.

    0-QUÂN CẠN: Quân bài được suy đoán rất ít khả năng còn hiện lên trên chiếu.

    p-QUÂN ĐEN, QUÂN ĐỎ: 120 quân bài Tổ Tôm có 2 loại màu ĐEN và ĐỎ.

    p1: QUÂN ĐEN có 92 lá bài gồm có 3 bộ Yêu Đen(Nhất Văn, Nhất Vạn, Nhất Sách);Tất cả các bộ quân từ Nhị đến Thất; Bộ Bát có Bát Văn; Bộ Cửu có Cửu Văn.

    p2: QUÂN ĐỎ có 28 lá bài gồm có 7 Bộ Quân: 3 bộ Yêu Đỏ (Chi Chi, Thang Thang, Ông Cụ);2 Bộ Bát là Bát Vạn, Bát Sách; 2 Bộ Cửu là Cửu Vạn, Cửu Sách.
    q-QUÂN LỘ: quân bài hiện dưới chiếu tất cả làng đều nhìn rõ. Đôi khi gọi là QUÂN HIỆN.




    8 – NỌC: phần bài Người Bắt Cái để ở giữa chiếu (trên đĩa Nọc) cho ĐT mở dần.

    a-BÀI NỌC:là tất cả lá bài trong NỌC. Phần bài chọn Bắt Cái bao giờ cũng bớt 1 lá bài cho Người Có Cái.

    -Chơi TT5, Nọc có 19 lá bài.

    b-MỞ NỌC như BỐC NỌC: Nọc được các ĐT mở liên tục cho đến khi có người Ù. Khi Nọc chỉ còn 5 lá bài, thì không mở nữa, ván bài Hòa.

    c-ĐẾM NỌC, KIỂM NỌC: ván bài khi hòa,ĐT đếm số lá bài trong Nọc có đúng còn 5 không. Thực ra, tổng số quân rác tại các cửa là 15 là ván bài Hòa.

    d-ĐỐC NỌC: Quân bài mở cuối cùng của Nọc. Trong TT SĐ là Quân Bài có sô thứ tự là 6. Tương tự, Quân Bài số 5 các ĐT hay gọi là Đội Nọc.

    e-CHÁY NỌC: bốc hết Nọc mà ván bài vẫn Hòa. RÓC NỌC có ý nghĩa tương tự.

    f-KHÓA NỌC: Tổ Tôm Chiếu, 1 trong 2 quân dùng Bắt Cái, để ngửa trên cùng Bài Nọc, là quân Khóa Nọc, để chống gian lận. Trong Lập Trình TTSĐ không có quân lộ này vì chỉ Bắt Cái bằng 1 lá bài và Nọc mở tự động.

    g-MỞ CAO, CAO TAY BỐC: chỉ việc ĐT chọn lựa Mở Nọc, thay vì ăn quân nhà trên đánh xuống hoặc quân mở ở cửa nhà trên. Khi chơi Tổ Tôm, do nhiều quân bài hơn, nước bài phức tạp hơn, Ù được cả quân ĐT đánh ra, nên việc Mở Cao, Cao Tay Bốc càng quan trọng.

    -Thành ngữ hài hước của dân gian “Khi Đi Vợ Dặn Cao Tay Bốc” là từ ý nghĩa này.

    h-ĐẤM YÊU: khi mở Nọc cửa trì được con Yêu. Bài lúc đã chờ ù, đôi khi Đấm Yêu làm vỡ chờ vì không còn quân đánh xén.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 19/4/21
    dinhchip thích điều này.
  9. CHỈNH SƯA TỪ, THÀNH NGỮ TỔ TÔM TK 20 CHO GAME ONLINE (Tiếp theo)


    9-CÁI: Quyền hạn khởi đầu ván bài

    a-NHÀ CÁI: chỉ Đấu Thủ đánh ra quân bài đầu tiên khi vào ván. Chơi TT, có cái là rất lợi bài.

    a1: Nhà Cái được chọn lựa đầu hội do Bắt Cái chỉ định.

    a2: Ván chơi Hòa, nhà có KÊ (ĐẦU KÊ) sẽ có cái tiếp theo. Quân bài cuối cùng của Nọc mở để hòa, ở cửa trì nhà nào, nhà đó là ĐẦU KÊ, có cái ván tiếp theo. Trong TTSĐ là khi mở quân số 6.

    a3: Khi cả làng cùng bỏ bài, sẽ BẮT CÁI LÀNG, như Bắt Cái đầu hội.

    a4: Bắt Cái Đầu Hội không chọn Nhà Cái theo thành ngữ “Nhất Nhị Tại Vị” như nhiều nơi hiểu nhầm. Vận dụng như vậy, trong 5 đấu thủ người số 5 sẽ thiệt thòi. Để công bằng hơn khi bắt cái làng đầu hội, nhiều vùng coi 3 Quân Yêu Đỏ Chi Chi, Thang Thang, Ông Cụ là số 10.TTSĐ lưu ý vận dụng điều này, dù chỉ bắt cái 1 quân.

    b-NHÀ BẮT CÁI: người chọn Bài Nọc, lấy quân để tạo ra Nhà Cái và Bài Cái Đầu Hội.

    b1: Khởi đầu hội, Nhà Bắt Cái thường là người cao tuổi nhất hay chủ nhà, cũng công bố luật lệ chơi.Trong TTSĐ, là chủ bàn. Bắt Cái Đầu Hội do vậy rất quan trọng.

    b2: Các ván sau, Nhà Bắt Cái là người ván trước có cái. Sau ván Ù Thông, Tổ Tôm chiếu bắt cái theo vòng ngược chiều kim đồng hồ, tính từ người vừa Bắt Cái. TTSĐ để ĐT dưới nhà Ù Bắt Cái. Ù Tam Khôi trở đi, Bắt Cái theo vòng như Tổ Tôm Chiếu.

    c-BÀI CÁI:

    c1: ở Tổ Tôm Chiếu, Nhà Bắt Cái chọn Bài Nọc, để lên đĩa, lấy 1 quân bất kỳ ngửa lên. Chọn thêm 1 lá từ phần bài bất kỳ, cộng tổng 2 số, lấy phần dư của phép chia cho 5, đếm ngược chiều kim đồng hồ, chọn ra Bài Cái. Quân thêm cho Bài Cái là 1 trong 2 Quân Lộ


    c2: Bài Cái có thể chọn vận dụng thành ngữ “Nhất Nhị Tại Vị” vì không gây nhiều ảnh hưởng tới ván chơi.

    c3:Trong TTSĐ, chỉ bắt cái từ 1 Quân Bài Nọc, đếm luôn ngược chiều Kim đồng hồ, từ vị trí chọn Bài Nọc, để xác định ra Bài Cái.


    10-CỬA:

    a-CỬA là vị trí giữ hai Đấu Thủ. TT5, đủ người sẽ có 5 cửa.

    b-CỬA TRÌ: Cửa bên tay phải của ĐT, không nên gọi là “Cửa Của Mình”, các cụ cười. Người chơi còn hay dùng lẫn Cửa Trì với Cửa Dưới.

    c-CỬA TRÊN; Cửa bên tay trái của người chơi, là Cửa Trì của Nhà Trên.


    d-CỬA CHÉO: các cửa không liền với ĐT.

    e-CỬA Ù: các cửa tính theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ, ưu tiên người ở CỬA TRƯỚC, CỬA TRÊN.

    -Phỗng, Dậy Khàn, Dậy Thiên Khai thì Quân Ù vẫn phải tính theo thứ tự Cửa Ù, không được ưu tiên như CHÍU khi chơi CHẮN. CỬA SAU thua CỬA TRƯỚC


    11-XẾP BÀI:

    a-XẾP BÀI Ở TỔ TÔM CHIẾU:

    a1: Các ĐT nhận phần bài của mình và tiến hành xếp.

    a2: Xếp 1 lớp: Quân Yêu dồn bên trái đầu tiên, rồi xếp các Phu theo thứ tự Phu có Yêu, Phu Bí trước, Phu Dọc sau; Từ nhiều đến ít, từ nhỏ đến lớn; dập dòm cũng theo qui tắc đó; cuối cùng là Quân Rác. Nếu Có Cái Đầu Hội thì lưu ý Quân Kiêng.

    a3: Xếp 2 lớp: các Quân Yêu để hàng dưới, phía trong.

    a4: Xếp xong đếm quân (TTSĐ không cần đếm vì bao giờ cũng đủ), Xem Lưng, Kiểm phỗng, Khàn, Thiên Khai.

    b-XẾP BÀI TRONG TTSĐ:

    b1: Khi NHÀ CÁI chia bài xong, bạn Kích XẾP BÀI, kiểm tra nhanh bài trên tay bên trái có KHÀN, THIÊN KHAI thì Úp. 3 ô LỆNH về Khàn, Thiên Khai phía phải, trên cao màn hình.

    b2: Kiểm tra nhanh, xử lý Khàn, Thiên Khai (nếu có) rồi Kích chuột XẾP XONG, để làng không chờ, bức xúc.


    b3: XẾP XONG sẽ tự động đưa các lá bài vào phu. LT TTSĐ chưa ưu tiên PHU BÍ như trong Tổ Tôm Chiếu, nhưng cũng đã xếp tạm ổn.

    b4: Xếp bài sau chia bài trong Game không sợ “Lát Bài”, “Nghía Bài” nên ĐT tìm cách xếp thuận lợi tối đa cho cách chơi của bản thân. Bài liên tục được kiểm tra, xếp lại theo hướng có lợi hơn, theo diễn biến ván chơi.

    c-Ý KIẾN RIÊNG: Đặc biệt, hai phu dọc nối dài trong LT TTSĐ chưa xếp liền, làm ĐT khó tìm ra các phương án có lợi cho nước bài, cần xếp lại. Đề nghị MOD Lập Trình điều chỉnh phần xếp bài một chút.


    12- ĂN QUÂN: là ăn 1 quân tạo thành phu của mình (hoặc ăn thêm vào Phu có sẵn) dù là người trên đánh hay mở nọc, phỗng, dậy Khàn, dậy Thiên Khai. Ù và “Thiên Khai Ăn Khàn Trình Phu” là trường hợp “Ăn Quân đặc biệt”. Người ta cũng dùng từ Ăn Phỗng, Ăn Ù.

    a-ĂN YÊU: Quân Yêu ăn chỉ cần để riêng nó thôi, nếu có cả trên tay thì phải hạ xuống khỏi Treo Tranh. Chỉ Ăn Yêu được khi mở cửa trì, phỗng, dậy Khàn, có Thiên Khai Yêu,Ù.

    b-ĂN CÀI KHÀN: Ăn 1 quân tạo thành phu phải tổ hợp với Khàn Úp dưới chiếu. Quân ăn sẽ để lộ, còn quân trên tay hạ xuống theo và Khàn thì vẫn úp kín.

    c-ĂN LỘ KHÀN:Ăn 1 quân tạo tạo thành phu phải tổ hợp với Khàn Úp dưới chiếu nhưng lại làm lộ ra tên Khàn đó. Giống nhiều vùng, TTSĐ cho Ăn Lộ Khàn, như vậy là hợp lý.

    d-ĂN CHẦY: ăn quân đến sau, ăn quân đánh đi rồi...tóm lại là ăn báo thì trong TT5 gọi là ĂN CHẦY. Thành ngữ đủ là “Ăn Chầy, Phỗng Bữa”.

    e-ĂN MÒN: ăn thêm vào phu có sẵn, đánh ra quân mới, hại cho bài làng gọi là ĂN MÒN. Thành ngữ đủ là “Ăn Mòn, Đánh Chéo”.

    f-ĂN MỘT ĐÁNH MỘT:

    f1: ăn phu để trôi 1 quân có sẵn trên tay, đánh đi 1 quân cũng có sẵn trên tay, vào phu khác, phải giải thích để làng không Bắt Báo.

    f2: Trường hợp này hết sức lưu ý qui định “Quân Có Trước”, nhất là dạng “Quân Có Trước” nằm trong “PHu Có Trước” hay nằm trong “PHu Trên Tay”.

    f3: LỆ LÀNG qui định điều này có khác nhau.Ví dụ: bài ăn dưới chiếu 345 văn, trên tay có đôi 6 văn, 1 quân 7 văn. Thấy phỗng 6 văn không phỗng, sau hạ 6,7 văn nối vào và đánh đi 1 quân 6 văn. Với nguyên tắc 7 văn là Quân Có Trước, vậy không phỗng mà đánh đi 6 văn là đúng. Nhiều Lệ Làng trường hợp này buộc phỗng 6 văn, đánh đi 7 văn.

    g-ĂN MỘT ĐÁNH HAI: ăn phu trôi 1 quân trên tay , lại đánh đi 2 quân liên quan đến quân trên tay đó. Trường hợp này bị Bắt Báo. Ví dụ: bài có 3,4,5 văn và 3 sách, ăn của làng 3 vạn hạ Bí Tam 3 văn, 3 vạn, 3 sách rồi đánh 4,5 văn đi.

    h- ĂN HAI ĐÁNH MỘT:

    h1: ăn 2 Quân rác trên tay, đánh đi 1 Quân đã nằm trong Phu Dưới Chiếu, phải giải thích với làng.

    h2: Ví dụ: bài có 2 văn, 4, 5 văn với 3 vạn, 3 sách. Đến 3 văn, hạ bài ăn 3,4,5 văn dưới chiếu. Mở Nọc được 6 văn lại ăn, hạ vào 4,5 văn; hạ thêm 3 sách, 3 vạn với 3 văn dưới chiếu thành Bí Tam, đánh đi 2 văn.

    h3: LỆ LÀNG nhiều nơi cũng không cho đánh 2 văn, nên phải lưu ý.Với nguyên tắc ưu tiên cao nhất là tròn bài lại “Ăn Hai Đánh Một”, việc được đánh 2 văn là đúng, nhưng nhớ hạ Bí Tam.

    i-ĂN HAI ĐÁNH HAI: là ăn 1 quân A của làng (hoặc có sẵn) với 2 quân có sẵn trên tay, rồi đánh đi 2 quân cũng tạo thành được phu với quân A đó. Đây là biến thể của Ăn Một Đánh Một.

    -Ví dụ: có 4,5 văn và 3 vạn, 3 sách. Ăn được 3 văn(hoặc trên tay có sẵn), muốn ăn phu dọc hay phu bí thì tùy, được đánh đi 2 quân còn lại.

    k-ĂN BA ĐÁNH HAI: là biến thể của trường hợp Ăn Hai Đánh Một khi ăn quân A thành phu dọc hoặc phu bí có sẵn 3 quân trên tay, rồi đánh đi 2 quân cũng thành phu với quân A đó và phải giải thích với làng.

    -Ví dụ: bài có 2,4,5 văn với 3 vạn, 3 sách: ăn của làng 1 quân 3 văn rồi đánh đi 3 vạn, 3 sách. Hoặc bài có 4,5 văn với 2 quân 3 vạn, 1 quân 3 sách thì ăn 3 văn thành Bí Tam rồi đánh đi 4,5 văn.

    l-ĂN NĂM BINH: là Ăn Phu Bí mà trên tay hạ xuống có 2 quân trùng với quân ăn của làng. Ví dụ: bài có 3 văn, 3 văn, 3 vạn, 3 sách ăn thêm của làng 3 văn mà không phỗng, hạ cả Phu có 5 quân bài. Tổ Tôm Chiếu hạ 2 quân 3 văn đầu tiên với 1 quân 3 văn cuối cùng của Phu.

    m-ĂN LỤC BINH: khi Bất Thực Khàn, nhà trên đánh xuống hoặc Mở Nọc đúng vào quân trong Khàn Bất Thực mà không Phỗng Tái Kiến, thì mình ăn Phu Bí với quân đó, phu hạ sẽ gồm 6 quân bài là Ăn Lục Binh.

    -Ví Dụ: có Khàn 3 văn, trên tay có sẵn 3 vạn, 3 sách; 2 quân 4 văn, 2 quân 5 văn. Mở Nọc cửa trì được 3 văn, hạ Bí Tam: 4 quân 3 văn với 3 vạn, 3 sách.Tổ Tôm chiếu hạ 2 quân 3 văn đầu tiên với 2 quân 3 văn cuối cùng của phu.

    n-ĂN CẢ: khi Bất Thực Khàn hoặc Bất Thực Thiên khai mà không đánh đi quân bài nào trong Khàn hoặc Thiên Khai đó, lúc Ù phải HÔ Ù: Ăn Cả TRả Chén.

    o- ĂN LỖI, ĂN SAI: là các trường hợp ăn quân mà bị bắt báo khi đang đánh hoặc không được điểm khi Ù.

    -ĂN BUÔN trong lỗi BUÔN PHU cũng là dạng ăn sai. Ví dụ: bài có 3 vạn, 3 sách, 3 văn đến 7 văn ăn tạo ra Bí Tôm rồi đánh 3 văn đi.

    p-ĂN BẤT THÀNH PHU: ăn quân của làng rồi đánh 1 quân đi mà dưới chiếu có quân rác, gọi là Ăn Bất Thành Phu.

    -Lưu ý: trong TTSĐ, có thể bị bắt lỗi này dù không mắc nhưng do không xếp lại các Phu Tròn trên chiếu.

    q-ĂN CHẶN: ăn 1 quân cửa trì không có thêm tác dụng với bài mình rồi đánh đi 1 quân khác nhà dưới khó ăn. PHỖNG CHẶN cũng tương tự vậy.

    r-ĂN THÀNH, ĂN CHẠM CHỜ, ĂN CHẠM THÀNH, ĂN THẬP THÀNH:

    r1: là ăn 1 quân rồi đánh đi 1 quân để bài Thành (hoặc Thập Thành), Chạm Chờ, Chạm Thành. Ăn Vào Thành như Ăn Thành.

    r2: Lưu ý: Khi Nọc chỉ còn 1 quân mở là Hòa, ĐT mà ăn là phải bảo đảm Ăn Thành, nếu không đánh đi đúng quân làng Ù là phải Đền Làng ván bài đó.LỆ LÀNG nhiều nơi “Bắt Chặt”, “Một Ly Ông Cụ”, làng Ù vào quân khác cũng phải đền.Với TTSĐ chính là khi Nọc chỉ còn Quân Số 6, trên đĩa.

    r3: LT TTSĐ hiện nay chưa làm được chức năng này, sẽ bổ sung về sau.

    s-ĂN KÌM: ăn quân ở cửa trì dù không có tác dụng với việc Ù rồi Đánh Lành nhằm ngăn cản nhà dưới lợi bài. Từ này nằm trong thành ngữ “Ăn Kìm Đánh Đì”.

    t-ĂN DỌC, ĂN BÍ: là ăn 1 quân vào Phu Dọc hoặc Phu Bí.

    u-ĂN KHOAN: là nhắc nhở ĐT khi ăn quân thì chậm thôi phòng có người Phỗng hay Dậy Khàn đúng quân đó sẽ lộ bài. Ăn Khoan nằm trong thành ngữ “Ăn Khoan, Phỗng Nhanh”.

    v-KHÔNG ĂN QUÂN NỌ LẠI ĂN QUÂN KIA, ĂN NỌ ĐÁNH KIA: chỉ các trường hợp ăn sai, bị Báo, như “không ăn 3 văn lại ăn 7 văn”, “ăn 4 vạn đánh đi 7 vạn”....Không vận dụng cho từ quân thứ tư của phu dọc(cùng chất, khác số) hoặc quân khác chất cùng hàng trong phu bí.

    x-XOAY BÀI: Ăn Quân, Đánh Quân rồi tạo ra phu mới từ các phu có sẵn mục đích để bài tốt hơn.

    y-ĂN QUÂN TRONG TTSĐ: Kích chuột vào quân ăn, quân trên tay vào phu, rồi Kích ĂN. Nếu cần điều chỉnh Phu Ăn, thì dùng chuột và nút Hạ Lại Bài.Học để biết sử dụng được nút “Chọn Từng Quân”, “Chọn Cả Phu”.

    -Lưu ý ĂN QUÂN tạo thành Phu có số lá bài tối thiểu Hạ lộ trên mặt chiếu là rất quan trọng, tránh bị báo, lộ bài, sau này đánh xén, đảo phu.Hạ quân ăn Phu đúng là thước đo quan trọng trình độ của Người Chơi.Chỗ mình, hạ Phu ăn thừa 1 quân là vào gà trong 1 Dịch, thừa 5 quân là vào 5 Dịch, bằng thua ván Lèo rồi. Ăn quân lợi bài, kín bài thể hiện ĐT ĂN CAO hay ĂN THẤP.

    z-ĂN ĐÓN: là các trường hợp Bất Thực chưa có phu dọc hoặc từ phu đã có ăn thêm quân tạo ra dập dòm mới(cạ mới) để ĐÓN ĂN quân sau tổ hợp thành phu. Nhiều lúc ĂN ĐÓN còn tạo ra Cạ Mới để Chờ Ù. Thực ra ĂN ĐÓN chính là thủ pháp ĐÓN ĂN.


    13-ĐÁNH QUÂN: ĐT bỏ đi 1 quân bài trên tay để làng có thể ăn hoặc Ù. Không bao giờ được đánh quân Yêu ở bài trên tay.

    a- ĐÁNH ĐÌ: đánh quân bài để làng (mà chủ yếu nhà dưới) không ăn không ù được.Có ĐÌ CHÍNH CHỮ và ĐÌ KHÔNG CHÍNH CHỮ.

    b- ĐÁNH LÀNH, LÀNH BÀI: đánh quân bài làng khó Ù, khó tạo ra cước sắc, khó ăn.

    c- ĐÁNH CHÉO: Ăn Mòn rồi đánh ra quân bài có nhiều liên quan. Từ này nằm trong thành ngữ “Ăn Mòn Đánh Chéo”.

    d- ĐÁNH CAO, ĐÁNH THẤP, CAO TAY:nói về trình độ của người chơi.

    -Thực ra, bài lá yếu tố đỏ đen chiếm tới non nửa kết quả.Nhưng một canh bài đủ dài, thí dụ 3 giờ đồng hồ, kết quả phản ánh được trình độ người chơi. Đánh bị báo, đánh cho nhà dưới Ù nhiều, hay đánh quân bài về cuối làng Ù, phỗng nhiều Ù ít... là thể hiện Đánh Thấp.Ở vòng bài thứ ba, tức là lúc Nọc còn khoảng 10 quân, người Đánh Cao đã xác định rõ hướng bài Đánh Hòa.

    e-ĐÁNH HÒA: ăn kìm, đánh đì, mở Nọc tối đa để bài Hòa. Khi Nọc còn ít quân (còn khoảng 5 quân mở) hoặc lúc bài xấu không bỏ được, nhiều người đã chủ trương Đánh Hòa.

    f-ĐÁNH BẨN: là mô tả các trường hợp Đánh Láo, Đánh Bịp, Thông Lưng, Bài Thửa, Ăn Non, Chọn chỗ....Những tay chơi tao nhã thì không dùng đến từ này, chứ chưa nói đến việc không bao giờ Đánh Bẩn.

    g-ĐÁNH BÁO: đánh ra 1 quân bài trên tay hay ăn 1 quân của làng(ĂN BÁO) mắc lỗi nặng bị Bắt Báo.

    h-ĐÁNH PHẢI BÀI: là đánh quân, ăn quân hợp lý, bình thường.

    i-ĐÁNH MỘT LY ÔNG CỤ: chơi bài với qui định chặt chẽ, nghiêm ngặt.

    k- CHẠM YÊU ĐÁNH GÌ: là việc ĐT luôn chọn sẵn 1 quân bài để khi mở Nọc cửa trì được 1 quân Yêu sẵn sàng đánh ngay đi không cần nghĩ nhiều.

    l-ĐÁNH PHU DƯỚI CHIẾU: chính xác là đánh quân bài trên tay nằm trong phu dưới chiếu sẽ bị BẮT BÁO
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 19/4/21
    Mod01 thích điều này.
  10. CHỈNH SƯA TỪ, THÀNH NGỮ TỔ TÔM TK 20 CHO GAME ONLINE (Tiếp theo)

    14-Ù: ĐT BÁO Ù với làng khi có 1 quân bài hiện ra (do người khác đánh, mở Nọc, dậy Thiên Khai) mà bài tròn, có lưng. Ù = BÀI TRÒN + CÓ LƯNG + QUÂN Ù.

    -Thủ tục Ù thực ra có 5 bước: CHỜ Ù, BÁO Ù, HẠ Ù, HÔ Ù, XƯỚNG Ù.

    a-THIÊN Ù:

    a1: ĐT có cái, bài Thập Thành luôn. Quân Ù được coi là Quân Bắt Cái.

    a2: TTSĐ chưa qui định các cước sắc kèm theo Quân Ù trong Thiên Ù.Với xu hướng để TT ù to, nâng cao, nên cho hưởng các cước sắc kèm theo Quân Bắt Cái trong Thiên Ù như Bạch Thủ, Xuyên, Chi Nẩy....TT Chiếu thì chưa có khái niệm này.

    a3: Tất nhiên có thưởng sẽ có phạt, như vậy Thiên Ù mà Quân Bắt Cái (chính là Quân Ù)khi cần phải hô các điều kiện kèm theo như “Ù Không Phỗng, Tiền Ù Hậu Dậy, Tiền Dậy Hậu Ù...” mà quên thì cũng bị Ù Lành Làng.

    b-Ù LÀNH LÀNG: Ù mà ĐT mắc lỗi nhẹ không được điểm như lỗi Treo Tranh; lỗi xếp quân dưới chiếu như Trái Vỉ(có nơi gọi là Trái Bỉ), Kẹp Cổ; lỗi Khê Khàn hoặc Thiên Khai, Treo Khàn hoặc Treo Thiên Khai;Lỗi HÔ Ù sai với làng diễn biến về Phỗng, Khàn, Thiên Khai theo qui định; quên HÔ Ù “Đánh Đi Ù Lại”, “Yêu Hoàn Yêu”, “Bí Hoàn Bí”, “Thấy Không Phỗng”...

    -Một số vùng gọi Ù Lành Làng là Ù “Đeo Kính”, Ù “Phong Trào”(có hoa không quả), Ù Lấy Cái...

    c-Ù BÁO: Ù mà làng phát hiện mắc các lỗi nặng và phải đền làng, cũng còn gọi là Ù LÁO, Ù XỌE.

    d-Ù CHÈO ĐÒ: là Ù Báo, không được đền làng ngay, mà phạt trả lại bằng ván Ù sau.

    -TTSĐ chưa có mục này. Do là trò chơi trên Internet, mọi lỗi nặng đều bị phạt điểm ngay để trả luôn cho các ĐT khác.

    e-Ù TRẢ ĐÒ: Ù trả nợ cho ván Ù CHÈO ĐÒ.

    -TTSĐ không có mục này.

    f-Ù THÔNG: Ù tiếp theo ván Ù trước đó. Có Ù Thông đến nhiều ván, mà từ ván Ù thứ ba gọi làTam Khôi, ván thứ tư là Tứ Khôi ...đến N Khôi..

    g-Ù LẤY ĐƯỢC: Ù nhiều quá làng ghét hoặc Ù mắc lỗi.

    h-Ù ĐÈ: khi Ù thì cướp quyền Ù của nhà khác ở cửa sau (cửa dưới).Có Ù ĐÈ thì có lúc BỊ ĐÈ.

    i-Ù NĂM BINH: phải hô Ù Năm Binh khi Quân Ù là quân A; lại có phỗng A nhưng không phỗng được vì A nằm trong ít nhất 2 phu khác nhau (còn gọi là Ù không phỗng). Cùng tính chất với Ăn Năm Binh.

    k-Ù LỤC BINH: tính chất như Ù Năm Binh và Ăn Lục Binh.

    l-Ù VỌNG:

    l1: là trường hợp Ù với Thiên Khai của nhà khác dậy khi động Nọc. Ù Vọng không được tính cước sắc.

    l2: TTSĐ nên cho Ù Vọng cước bằng Lèo.

    l3: Trong TTSĐ: Thiên Khai tự động dậy khi mở Nọc cây đầu tiên. ĐT nào chờ đúng vào quân bài trong Thiên Khai đó, dù là dạng Phu nào hoặc đã Thập Thành thì được Ù.

    m-Ù KHÔNG PHỖNG:

    m1: Ù với quân bài A, mà trên tay có phỗng A nhưng chia vào ít nhất 2 phu nên Phỗng bài không tròn, vậy phải hô Ù Không Phỗng.

    m2: Bao quát cho Ù Năm Binh, Ù Lục Binh đều xướng Ù không Phỗng để tránh lỗi được.

    m3: TTSĐ có mục HÔ Ù KHÔNG PHỖNG, không sử dụng mục HÔ Ù Năm Binh, Ù Lục Binh là dễ hơn cho các ĐT.

    n- BỎ Ù:

    n1: không Ù khi đang chờ mà Quân Ù hiện trên chiếu.

    n2: Trong TT Chiếu, nếu Bỏ Ù, sau đó lại Ù được thì được phép Ù Lành Làng.

    n3: TTSĐ hiện nay cũng cho phép Ù Lành Làng, nhưng khi thi đấu giải , việc này sẽ ảnh hưởng đến thứ tự các ĐT trong bàn chơi nên cần xem xét. Tương tự trường hợp Bỏ Ù trong thi đấu Giải Chắn các ván cuối cùng.

    o-XƯỚNG Ù:

    o1: thông báo với làng mình đã Ù và có cước sắc thế nào, có điều kiện gì khác Ù thông thường. (thực ra điều kiện Ù đặc biệt được gọi là HÔ Ù).

    o2: XƯỚNG Ù rất quan trọng, có thể mắc lỗi để bị thiệt điểm (nếu XƯỚNG Ù thiếu cước), có thể Ù Lành Làng(nếu HÔ Ù thiếu điều kiện theo qui định), có thể đền làng (nếu XƯỚNG Ù thừa cước thì “XƯỚNG SAO ĐỀN VẬY”).

    o3: thực ra XƯỚNG Ù có ba phần: BÁO Ù + HÔ Ù + XƯỚNG Ù.

    p-TIẾNG Ù: nghĩa là VÁN Ù hoặc Quân Ù. Ví dụ: nói “Tiếng Ù Lèo” nghĩa là ván đó nếu Ù sẽ có Lèo. Nói chờ “Một Tiếng Bát Sách”: chờ Quân Ù là Bát Sách.

    q-CƯỚC SẮC Ù: Ù Suông được coi là không có CƯỚC SẮC. Mọi dạng ù khác(trừ Báo hay Ù Lành Làng) đều có Cước Sắc như Thông, Tam Tứ Ngũ...Khôi, Tôm, Lèo, Bạch Thủ, Xuyên, Tứ Trụ (Kính Cụ, Thập Điều, Bạch Định,Chi Nẩy), Kính Tứ Cố, Thiên Ù, Ù Vọng. Lệ Làng có thể sáng tạo ra nhiều cước sắc khác ĐT cần lưu ý.

    r-BÁO Ù:

    r1: khi Quân Ù hiện lên dưới chiếu, ĐT BÁO Ù. BÁO Ù hay bị lẫn với XƯỚNG Ù, HÔ Ù.

    r2: TT Chiếu, khi Báo Ù nhiều người thận trọng còn hô NHỜ hoặc Phỗng để có thời gian kiểm tra lại rồi mới Báo Ù.

    r3: LT TTSĐ: Báo Ù thì ĐT nhấp nút Ù. Lưu ý Quân Ù rơi vào Phỗng (trừ trường hợp Ù Không Phỗng) thì phải Phỗng trước; rơi vào Khàn (trừ trường hợp Tiền Ù Hậu Dậy) thì phải Dậy trước, nếu không sẽ Ù Lành Làng.

    s-HÔ Ù: Sau khi Báo Ù, hạ xong các phu, xử lý Dậy Khàn Úp, ĐT HÔ Ù, nêu các điều kiện Ù ở trường hợp phải nêu. Nếu không có các điều kiện phải HÔ, thì XƯỚNG CƯỚC luôn, trường hợp này HÔ Ù ẩn luôn trong XƯỚNG Ù.

    t-Ù VỚI PHỖNG A:

    t1: Ù CÓ PHỖNG: trường hợp cần Phỗng để có lưng, Quân Ù A (là Quân Phỗng Ù) hiện lên, ĐT phải hô Phỗng. Có phu Phỗng A hiện lên mặt chiếu, rồi mới BÁO Ù.Đây cũng là một trường hợp có Cước Ù BẠCH THỦ.

    t2: Ù KHÔNG PHỖNG: nếu Quân Ù A lại đi vào hai phu, ba phu khác nhau thì không được Phỗng. ĐT Báo Ù ngay, hạ hết phu dưới chiếu rồi HÔ Ù, nhớ Hô Ù KHÔNG PHỖNG, nếu quên là Ù Lành Làng.

    t3: Lưu ý: LT TTSĐ bắt buộc Phỗng A trước rồi mới Báo Ù khi bài không vướng vào mục Ù Không Phỗng, kể cả có Lưng rồi. ĐT nếu không Phỗng A trước mà Báo Ù ngay, cũng bị Ù Lành Làng.

    u-Ù VỚI KHÀN A:

    u1: Với Khàn A Úp, Quân Ù không phải A, thì Báo Ù, hạ hết phu trên tay, Dậy Khàn rồi Hô Ù, Xướng Ù.

    u2: Với Khàn A Úp, Quân Ù lại là quân A, thì vận dụng theo “Tiền Ù Hậu Dậy” hoặc “Tiền Dậy Hậu Ù” ở Điều 17.g, Điều 17.h.

    u3: Khàn A Úp khi ăn Cài Khàn, ăn Lộ Khàn cũng vận dụng như trên.

    u4: Khàn A khi Bất Thực thì vận dụng Điều 17.a, lưu ý với Phỗng Tái Kiến(Phỗng Khi Thấy) hoặc Kiến Bất Tái(Thấy Không Phỗng). Từng bước Báo Ù, Hô Ù, Xướng Ù, Phỗng Ù (nếu có) phải thực hiện đúng, nếu không sẽ Ù Lành Làng.

    u5: Lưu Ý: khi bị BẤT THỰC TRÙNG TRỤC(khàn A không tạo ra phu dọc, phu bí nào, hoặc còn quânA là Quân Rác chơ lơ khi Ù) đừng Báo Ù, nếu không sẽ Bị Bắt Báo. Hiện LT TTSĐ chưa Bắt Báo mục này, nhưng chắc sẽ sửa đổi.

    v-Ù VỚI THIÊN KHAI A:

    v1: Khi Thiên Khai A của làng: bài của ĐT chờ Ù đúng quân A(hoặc Bài Thành ù được với A), thì Động Nọc Dậy Thiên Khai, ĐT Báo Ù ngay. Lấy 1 quân của Thiên Khai A về bài mình, tạo phu xong, hạ hết bài, Hô Ù, Xướng Ù tiếp.

    v2: Khi Thiên Khai A của bài mình, làng đánh ra Quân Ù, chưa Động Nọc: ĐT Báo Ù, hạ phu dưới chiếu, Dậy Thiên Khai sau cùng. Lệ Làng nhiều nơi chưa qui định rõ điều này.

    v3: Khi Thiên Khai A của bài mình, mở Nọc quân đầu tiên là Quân Ù(Động Nọc): ĐT Báo Ù, Dậy Thiên Khai, hạ phu với Quân Ù xong, hạ hết phu trên tay, rồi Hô Ù, Xướng Ù tiếp. Điều này cũng chưa được qui định rõ trong nhiều Lệ Làng.

    v4: Khi Thiên Khai A của bài mình lại cùng quân rác B trên tay, kết hợp thành CẠ CHỜ Ù chưa Động Nọc: Quân Ù hiện lên, Báo Ù,lấy Quân Ù về cùng quân rác B trên tay, cài vào Thiên Khai Úp. Dậy Thiên Khai tạo thành Phu, Hạ hết phu trên tay, tiếp tục Hô Ù, Xướng Ù. . Điều này cũng chưa được qui định rõ trong nhiều Lệ Làng.

    v5: Khi Thiên Khai A của bài mình lại cùng quân rác B trên tay, kết hợp thành CẠ CHỜ Ù mà mở Nọc quân B đầu tiên(Động Nọc) chính là Quân Ù: Dậy Thiên Khai, ĐT Báo Ù, lấy quân B về xếp phu, hạ hết phu trên tay, tiếp tục Hô Ù Xướng Ù.

    v6: Với Thiên Khai Ăn Khàn Trình Phu hoặc Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn thì vận dụng như với trường hợp của Ù với Khàn. HÔ Ù khi Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn cần lưu ý: Hô Ù chung cho cả cụm “Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn... Trả Chén Làng”. TTSĐ phần này Lập Trình cho trả 2 chén cùng lúc mới được, nếu trả và hô từng chén thì là cả một qui tắc rắc rối kèm theo. Lệ Làng nhiều vùng đều chưa qui định rõ “Trả Chén Ngửa, Úp”; chưa có câu Hô Ù “Bất Thực Thiên Khai ăn 3 đánh 1, Bất thực Khàn ăn 2 đánh 1” khi đánh đi 2 quân trong Thiên Khai.

    v7: TRường hợp đặc biệt: Khi Động Nọc Dậy Thiên Khai có hơn 1 ĐT Ù, thì ưu tiên Quân Thiên Khai là Quân Ù có trước. Ví dụ: ĐT A chờ Ù 3 vạn, ĐT B chờ ù 3 sách, ĐT C có Thiên Khai 3 Sách và cũng chờ ù 3 vạn. Mở Nọc quân đầu tiên là 3 Vạn, ĐT C được ưu tiên Ù với 3 Sách.

    v8: Lưu Ý: Trong điều 14.v, tất cả vận dụng ý nghĩa “Động Nọc là chưa Mở Nọc”, nên Dậy Thiên Khai trước rồi mới có quân Mở Nọc. Lệ Làng nhiều vùng chưa qui định rõ điều này, nên nếu không phân biệt rõ “Động Nọc” khác “Mở Nọc”, điều 14.v sẽ có nhiều thay đổi.

    x-ĐÁNH Ù:

    x1: ĐT A đánh ra một quân bài để ĐT khác ù với quân bài đó.

    x2: Đánh Ù thông thường trong ván chơi, nếu có Gà Trong, ĐT A đánh ù phải vào gà 1 dịch.

    x3: Đánh Ù Đền: ĐT A đánh ra quân bài phạm lỗi với qui định “Một Thành Hai Chờ” và ĐT khác Ù với quân bài đó, thì phải đền ván ù thay cả làng.

    x4: Đánh Ù Báo Đền: nếu quân đánh ra làng ù, lại là quân bị bắt báo, thì ĐT A sẽ bị đền cả làng ván báo. Có Lệ Làng qui định ĐT A chỉ đền cho người Ù ván đó. Đánh “Một Ly Ông Cụ”, ĐT phải đền cả ván ù cho người Ù và Đền Làng.

    y-HẠ Ù: sau Báo Ù, là thao tác Hạ Ù. Hạ Ù phải chuẩn, nếu không sẽ ù lành làng (ví dụ dậy khàn sai, sai phỗng) hoặc Bất Thành Phu. Trong TTSĐ, Hạ Ù chậm còn bị Ù lành làng.

    z-HÒA: là ván chơi không có ai Ù,không ai Báo.

    z1: HÒA THÔNG THƯỜNG: mở hết Nọc, trong TTSĐ là mở hết quân số 6, không ai Ù, là ván bài HÒA. Người Đầu Kê được cái ván tiếp.

    z2: HÒA DO CẢ LÀNG CHẠY: cả làng nhất trí cùng BỎ BÀI, cùng CHỊU. Ván sau sẽ thực hiện BẮT CÁI LÀNG. TTSĐ chưa Lập Trình phần này.

    z3: HÒA TRONG ĐIỀU KIỆN ĐẶC BIỆT: do có vấn đề nảy sinh trong ván chơi thuộc về sự cố người chơi, luật chơi, đồ chơi...


    15-CHỜ Ù: là CHỜ một quân bài hiện trên chiếu(Quân Ù) tổ hợp với bài đang có bảo đảm Tròn Bài + Có Lưng để Ù. Có nhiều dạng CHỜ Ù hoặc chuẩn bị được CHỜ Ù nêu dưới đây.

    a-THÀNH : CHỜ Ù khi bài đã Tròn nhưng chưa có Lưng.

    -Lưu Ý: TTSĐ cần phân biệt rõ “Thành” khác với “Thập Thành” để lập trình khoa học cho các luật liên quan như “Một Thành Hai Chờ”, “Vào Thành”, “Ăn Thành”...

    b-THẬP THÀNH: CHỜ Ù khi bài đã Tròn, đã có Lưng, chỉ còn đợi hiện lên Quân Ù là Ù.

    c-THIÊN THÀNH: là bài THIÊN Ù, mà Quân Bắt Cái chính là Quân Ù.

    d-CHẠM THÀNH: bài chỉ còn lẻ 1 quân rác A, khi CHẠM YÊU (mở Nọc cửa trì được Yêu) hoặc ăn vào một phu có sẵn thì đánh 1 quân rác A đi để bài Thành (hoặc Thập Thành).

    e-LAI THÀNH, VÀO THÀNH, ĂN THÀNH: thực hiện ăn thêm 1 quân bài để bài Thành (hoặc Thập Thành).

    f-BUỘC VÀO THÀNH:

    f1: TT Chiếu nhiều vùng qui định bài chờ ù Bạch Định,chờ ù Chi Nẩy nếu có quân phù hợp buộc phải Vào Thành nếu không Ù sẽ là Ù Lành Làng hoặc bỏ 2 cước Tứ Trụ, chỉ tính các cước sắc còn lại.Nếu đánh “MỘT LY ÔNG CỤ”, hô Chi Nẩy khi không vào thành, còn bị đền làng ván Chi Nẩy.

    f3: TTSĐ chỉ qui định chờ Ù Chi Nẩy mới phải Vào Thành, không vào thành mà chiếu hiện lên Chi thì chỉ được Xướng Chi Lèo.

    f4: Ý kiến riêng: Không bắt buộc Vào Thành trong mọi trường hợp, bảo đảm xu hướng Ù to của thời nay; bảo đảm nguyên tắc “Được Ăn Thua Chịu”; bảo đảm không bất hợp lý với các cước Tứ Trụ khác như Thập Điều, Kính Cụ, thậm chí là Kính Tứ Cố.

    g-CHẠM CHỜ: bài chỉ cần ăn thêm 1 quân phù hợp là được CHỜ Ù.

    h-VỠ CHỜ: khi bài Chờ Ù, mở cửa trì bị Đấm Yêu hoặc Dậy Khàn, Dậy Thiên Khai không còn quân đánh xén, phải phá phu đánh đi, không còn được Chờ Ù nữa. Thậm chí bị Đấm Yêu hay Dậy Khàn ngoài ý muốn, không còn quân đánh xén để Vỡ Chờ, mà buộc phải đánh ra quân bài bị bắt báo, phải xin làng Báo gọi là XIN BÁO.

    i-CHỜ NHIỀU TIẾNG: bài Chờ Ù có thể chỉ chờ 1 Quân Ù. Khi chờ được nhiều Quân Ù thì được gọi là Chờ Nhiều Tiếng.


    16-PHỖNG: bài trên tay có hai quân giống hệt nhau là tạo thành Một Phỗng. Khi trên chiếu hiện lên quân đó ở bất kỳ cửa nào mà hô Phỗng, sẽ là ĂN PHỖNG, GỌI PHỖNG tạo thành 1 Phu Phỗng. Dưới Chiếu sẽ được một Phu bài gồm 3 quân giống hệt nhau, tạo thành 1 Lưng Trùng Tam. Không được tách ra 1 quân trong Phu Phỗng để tạo thành phu riêng biệt khác.

    a-PHỖNG CỐT TỬ: Một Phỗng có thể tạo ra ưu thế đặc biệt(thường Phỗng xong được chờ) cho bài trên tay gọi là Phỗng Cốt Tử.

    b-PHỖNG YÊU: có sẵn hai Quân Yêu giống hệt nhau Phỗng 1 Quân Yêu thứ ba giống thế khi mở Nọc.Phỗng Yêu cũng là 1 Lưng Trùng Tam.

    b-PHỖNG BỬA: thực hiện PHỖNG mà bài trên tay lẻ thêm ra, càng khó dẫn đến ù. Từ này có trong thành ngữ “Ăn Chầy, Phỗng bửa”.

    c-PHỖNG TAY TRÊN: Phỗng quân bài hiện ra tại cửa ăn của nhà trên.

    -Chơi TT, Phỗng là một lợi thế, nhưng cũng bất lợi khi gây khó cho các nhà khác là gây khó cho mình. ĐT nhiều kinh nghiệm rất ít Phỗng, đặc biệt là Phỗng Tay TRên(nhất là Phỗng Yêu) nếu Phỗng không thật cần thiết.

    d-PHỖNG THÀNH: thực hiện Một Phỗng mà sau đó chỉ đánh đi một quân là bài Thành.

    e-PHỖNG Ù:

    e1: Ù với đúng quân bài vào Phỗng. Tổ Tôm Chiếu qui định Quân Ù nếu đã xuất hiện trước đó mà bỏ Phỗng thì không được Phỗng Ù, theo qui định “Không Phỗng Quân Trước, Không Được Phỗng Quân Sau”.

    e2: TTSĐ qui định, trừ trường hợp Ù Không Phỗng, mọi quân Ù vào Phỗng trong phu bí, kể cả khi có Lưng rồi, vẫn phải hô Phỗng xong rồi sau đó mới được hô Ù thì mới có điểm. Trong TT Chiếu không qui định như vậy.

    e3: Ý KIẾN RIÊNG: Đa số các vùng chơi TT Chiếu qui định không phỗng quân trước thì không được Phỗng Ù quân sau. Qui định này mâu thuẫn với nguyên tắc Ù LÀ KHÔNG HỒI TỐ CÁC NƯỚC BÀI TRƯỚC ĐÓ (đương nhiên gồm nước Bỏ Phỗng); không công bằng khi so với qui định “ĐÁNH ĐI CÒN Ù LẠI ĐƯỢC”(đánh quân trong phu đi nặng tội hơn còn được tha mà) hoặc “KHÔNG Ù QUÂN RA TRƯỚC, ĐƯỢC Ù QUÂN RA SAU”; ; Cuối cùng, như “VÁN BÀI ĐỜI”, bao giờ cũng có một “ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM”, “MỘT PHẦN NGHÌN TIA HY VỌNG” cho tất cả mọi người. Mình trình bày ý kiến này, các Mod đã phê duyệt và dùng trong Game, mình mừng vì người trẻ hôm nay, đủ phương tiện, đủ tầm cao hiểu rộng, làm thoáng, xử lý giỏi hơn lớp trước nhiều.

    f-PHỖNG NHANH: thực hiện Phỗng phải nhanh, tránh Phỗng chậm nhà khác đã hạ Phu làm bài bị lộ. Từ này nằm trong thành ngữ “Ăn Khoan Phỗng Nhanh”.

    g-PHỖNG PHÁ LÀNG: thực hiện Phỗng không có lợi cho bài mình nhưng giảm thiểu cước sắc, ngăn nhà đỏ,đánh quân lành cho chóng hòa lúc cuối Nọc...

    h-PHỖNG LƯNG: Phỗng tạo ra Lưng đầu tiên của bài.

    i-PHỖNG TÁI KIẾN:

    i1: khi Bất Thực Khàn A, hiện lên quân trong A mà thực hiện Phỗng. Dịch nôm nghĩa Hán Việt là Phỗng khi THẤY quân trong Khàn Bất Thực tạo lại hình dáng đầu tiên của Khàn.

    i2: TT Chiếu qui định chỉ được Phỗng Tái Kiến khi có ít nhất một phu dọc đi với quân trong Khàn. Tức là khi Phỗng Tái Kiến hạ phu Phỗng đồng thời phải có một phu dọc kèm theo. TT Chiếu nhiều vùng cũng không phân biệt rõ là phu dọc có từ đầu ván bài hay có thể tạo ra trước khi Phỗng Tái Kiến. TTSĐ thì thực hiện khác, cho Phỗng Tái Kiến khi có phu bí kèm theo mà không có phu dọc. Điều này hợp lý khi Phỗng Ù Tái Kiến tạo lưng mà không có phu dọc kèm theo. Dị luật này khác với hầu hết Lệ Làng xưa, như vậy có nên sửa trong thời gian tới. Phỗng Tái Kiến mà không có một phu khác cùng hạ xuống trên chiếu là bị Báo vì dính vào lỗi “Bất Thực Trùng Trục”. TTSĐ cũng chưa thực hiện bắt lỗi này trong Game.

    i3: Khi Phỗng Tái Kiến, ĐT trả chén cho làng và hô “Bất Thực Khàn A, Phỗng Tái Kiến, ăn cả trả chén làng”. TTSĐ mục hô Phỗng Tái Kiến còn chưa thực hiện. Phỗng Tái Kiến có thể Việt Hóa là “PHỖNG KHI THẤY”.

    i4: Tổ Tôm Chiếu còn có khái niệm “KIẾN BẤT TÁI”, chính là khái niệm “THẤY KHÔNG PHỖNG” trong TT SĐ.

    k-PHỖNG PHỤC VỤ: ĐT A Phỗng liên tục, để cho nhà dưới lợi bài Ù nhiều, làng bình luận ĐT A là “Phỗng Phục Vụ”.

    l-PHỖNG BẬY:

    l1: thực hiện Phỗng và bị làng bắt Báo. Một số vùng gọi là PHỖNG ẨU, PHỖNG LÁO.

    l2: Phỗng một quân bài đã xuất hiện trước đó mà không Phỗng. Báo vì phạm lỗi “KHÔNG PHỖNG TRƯỚC LẠI PHỖNG SAU”.

    l3: Phỗng một quân bài mà cả Phỗng đã lộ trong phu dưới chiếu. Lưu ý Phỗng Tái Kiến hợp lệ bởi ít nhất còn 1 quân bài trong Phỗng trên tay. Báo vì phạm lỗi “PHỖNG LỘ”.

    l4: Phỗng một quân bài A(không phải là Bất Thực Khàn A) mà 1 quân A của Phỗng đã nằm trong 1 phu dọc dưới chiếu. Báo vì phạm lỗi “PHỖNG LỘ”. Phỗng Tái Kiến cũng không vi phạm lỗi này.

    l5: LT TTSĐ còn một điểm ở mục hô Ù KHÔNG PHỖNG chưa phù hợp chơi Tổ Tôm ở nhiều vùng là khi Hạ Ù với Quân Ù A, ĐT có 1 phu dọc với A dưới chiếu, lại còn dư một quân A trên tay thuộc phu Bí(Không phải trường hợp Bất Thực Khàn A) vẫn phải hô Ù Không Phỗng nếu không bị phạt Ù Lành Làng. Nguyên tắc không được Phỗng quân A khi nó nằm trong phu dọc dưới chiếu đã có ở đây mâu thuẫn với lỗi phạt này. MOD lập trình xem xét điều chỉnh.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 19/4/21
    Mod01 thích điều này.
  11. CHỈNH SƯA TỪ, THÀNH NGỮ TỔ TÔM TK 20 CHO GAME ONLINE (Tiếp theo)

    17-KHÀN: Khàn là tổ hợp 3 quân giống hệt nhau có ngay trên tay lúc bắt đầu ván chơi. Khàn mà úp xuống chính là một Phu Tròn, là Lưng Trùng Tam.

    a-KHÀN BẤT THỰC: Bất Thực là Không Ăn.

    a1: Không tạo thành phu Khàn nữa(không Ăn Khàn) là “Bất Thực Khàn”, sẽ không úp xuống chiếu mà cầm trên tay. Khi Bất Thực Khàn thì phải lấy Một Chén về để báo làng và thực hiện việc Trả Chén khi ăn, khi Ù đúng qui định.

    a2: Bất Thực Khàn chỉ được phép đánh đi một quân trong Khàn.

    a3: HÔ Ù khi Bất Thực Khàn A phải nêu rõ các diễn biến của Khàn Bất Thực nếu không sẽ Ù Lành Làng. Có thể là các trường hợp “Bất Thực Khàn A ăn cả trả chén làng”, “Bất Thực Khàn A ăn hai đánh một trả chén làng”, “Bất Thực Khàn A Kiến Bất Tái ăn cả trả chén làng”, “Bất Thực Khàn A Kiến Bất Tái ăn hai đánh một trả chén làng”.Ở TTSĐ “Kiến Bất Tái” dịch luôn Tiếng Việt “Thấy Không Phỗng” là rất hay.

    a4: TT Chiếu ở nhiều vùng qui định Bất Thực Khàn phải có ít nhất một phu dọc.

    a5: TTSĐ bỏ điều kiện Bất Thực Khàn buộc phải có phu dọc là hợp lý. Như vậy khắc phục được trường hợp bài có Khàn 7 văn, lại có 2 con 3 vạn, 2 con 3 sách (tạo thành Bí Tôm với 7 văn); có 2 con 7 vạn, 2 con 7 sách(tạo thành Bí Thất với 7 văn) và không có phu dọc kèm theo 7 văn. Nếu không cho Bất Thực Khàn 7 văn, trôi đi cả hai nhóm, phải đánh đi ít nhất 4 con thì phi lý quá. Lưu ý Bất Thực Khàn khi Ù không có phu dọc, chỉ có một phu bí phải Xướng Bí Hoàn Bí mới được có điểm.

    a6: Tổ Tôm Chiếu nhiều vùng qui định Bất Thực khi có nhiều Khàn phải thông báo KHÀN CAO, KHÀN THẤP là không cần thiết và vướng cho Game, TTSĐ bỏ mục này. TT Chiếu qui định phải thông báo bất thực khàn cao, thấp để chống trường hợp đổi khàn, trên mạng Internet việc này bị loại trừ, không thể đổi khàn được nên cũng bỏ điều khoản đó.

    a7: Tuy vậy LT TTSĐ cho Phỗng Tái Kiến khi có một phu bí kèm theo cùng hạ xuống là hơi dị biệt quá, đề nghị MOD lập trình xem xét.

    b-KHÀN ÚP: tức là không Bất Thực Khàn mà ÚP KHÀN trên chiếu.

    c-KHÊ KHÀN: Úp Khàn mà quên Dậy Khàn khi quân đó hiện ra trong khi đánh hoặc khi Ù. Khê Khàn nếu Ù thì là Ù Lành Làng. Đã quên Dậy Khàn lúc đánh thì chỉ khi Ù mới được Dậy sau.

    d-KHÀN TREO, TREO KHÀN: có Khàn quên Úp Khàn, cũng không Bất Thực Khàn thì gọi là KHÀN TREO, nếu Ù cũng là Ù Lành Làng. TTSĐ đang lẫn Treo Khàn với Khê Khàn.

    e-DẬY KHÀN:

    e1: úp Khàn, khi trên chiếu hiện lên quân trong Khàn thì DẬY KHÀN tạo thành phu có 4 quân giống hệt nhau, là 1 LƯNG TRÙNG TỨ.

    e2: Khi Ù, nếu Quân Chờ Ù không phải là Quân Trong Khàn, thì hạ xong hết bài mới Dậy Khàn. Tổ Tôm Điếm qui định điều này rất chặt chẽ, nếu Dậy Khàn trước là thành Ù Lành Làng. Các ĐT lưu ý dậy đúng lúc, dù chưa bị phạt dậy sai thời điểm.

    -Ý kiến riêng: trong TTSĐ, thời gian dành cho chờ DẬY KHÀN nên dài hơn cho chờ ăn, chờ Phỗng 2 đến 3 giây đồng hồ.

    f-TIỀN THỰC HẬU DẬY(tức là TIỀN ĂN PHU, HẬU DẬY KHÀN): khi ÚP KHÀN, mà ăn được quân trong Khàn khi nhà trên đánh xuống hoặc mở Nọc cửa trì.

    -Lưu ý: chỉ hai trường hợp nêu trên là được “Tiền Thực Hậu Dậy” nhé. Nhà trên mở Nọc dù không ăn thì nhà dưới cũng không thể “Tiền Thực Hậu Dậy”, chỉ có thể Dậy Khàn để ăn quân đó.

    g-TIỀN Ù HẬU DẬY: Úp Khàn A, ù với Quân Ù A nhưng phải dùng tạo ra thêm 1 phu khác, thì phải BÁO Ù, xếp phu mới tạo thành từ A, hạ hết bài rồi mới Dậy Khàn. Lúc HÔ Ù, cần HÔ rõ điều kiện Tiền Ù Hậu Dậy, sau đó mới XƯỚNG Ù (CƯỚC SẮC Ù).

    -Ví dụ: Úp Khàn 3 văn, trên tay lẻ 4,5 văn lại chờ Ù 3 văn, 6 văn; khi chiếu hiện lên 3 văn thì BÁO Ù, hạ phu 345 văn, hạ hết các phu khác rồi Dậy Khàn. Khi HÔ Ù nhớ HÔ thêm điều kiện Tiền Ù Hậu Dậy rồi mới Xướng Cước Sắc.

    h-TIỀN DẬY HẬU Ù: Úp Khàn A, ù với Quân Ù A, mà không cần tạo thêm phu mới nào ở trường hợp Tiền Ù Hậu Dậy thì Dậy Khàn, Báo Ù rồi mới hạ các phu khác trong bài. Lúc HÔ Ù, cần HÔ rõ điều kiện Tiền Dậy Hậu Ù rồi mới Xướng Cước Sắc. TT chiếu nhiều vùng và TTSĐ bỏ mục Hô Ù này.

    i-KHÀN YÊU: là ban đầu bài trên tay có 3 Quân Yêu giống hệt nhau.

    -Bất Thực Khàn Yêu, khi Ù dù quân yêu không tổ hợp với quân khác thành phu dọc, phu Bí thì 3 quân yêu đã Bất Thực Khàn vẫn được tính là phu tròn, vẫn được Ù. Trường hợp này cũng phải HÔ Ù là Yêu Hoàn Yêu.

    k-BẤT THỰC TRÙNG TRỤC:

    k1: Bất Thực Khàn A mà khi Ù không có phu dọc hoặc phu bí tổ hợp trôi hết quân trong khàn A, còn chơ lơ 3 quân A(hoặc còn rác 1,2 quân A). Lưu Ý, Khàn Yêu không phụ thuộc điều này vì được vận dụng qui định “YÊU HOÀN YÊU”.

    k2: TT Chiếu một số vùng còn qui định không hợp lý là khi Ù thì Bất Thực Khàn bắt buộc có một tổ hợp phu dọc kèm theo nếu không bị phạt “Bất Thực Trùng Trục” cho Ù Lành Làng.

    k3: TTSĐ hay hơn không bắt buộc Bất Thực Khàn phải có tổ hợp phu dọc kèm theo khi Ù. Khi Ù, điều kiện HÔ Ù đúng phải HÔ thêm “BÍ HOÀN BÍ” nếu khàn chỉ tạo ra một phu bí.

    k4: Tuy vậy TTSĐ khi Bất Thực Trùng Trục cho Ù Lành Làng lại không hợp lý. Bất Thực Khàn, nghĩa là không ăn Khàn nữa, khi ù còn 3 quân chơ lơ đó(hoặc 1,2 quân) không tạo ra phu nào cả, là 3 Quân Rác, vậy phải Bị Báo, đền làng mới đúng. Lỗi nặng này là “Bất Thành Phu”.

    l-CẬY KHÀN:là thao tác khi ăn một phu phải LỘ KHÀN bằng cách ngửa lên 1 quân trong Khàn Úp.


    18-THIÊN KHAI: là tổ hợp 4 quân bài giống hệt nhau có ngay trên tay khi bắt đầu ván chơi. Thiên Khai mà úp xuống chiếu là một Lưng Trùng Tứ.

    a- ÚP THIÊN KHAI: 4 quân trong Thiên Khai đều úp kín xuống chiếu.

    b- DẬY THIÊN KHAI:

    b1: Thiên Khai Dậy khi Động Nọc mở quân đầu tiên, thường gọi là “ĐỘNG NỌC DẬY THIÊN KHAI”.

    b2: Khi Dậy Thiên Khai, nếu các nhà khác chờ Ù đúng quân trong Thiên Khai đó, họ sẽ được Ù.

    b3: Các ván bài Ù Với Thiên Khai được nêu trong Điều 14.v.

    b4: TT SĐ, Thiên Khai tự động Dậy khi Động Nọc (mở quân đầu tiên của Nọc).

    b5: do màn hình hẹp, TTSĐ bỏ chức năng người có cái “DẬY THIÊN KHAI” trước khi đánh đi quân đầu tiên, mà ghép vào Dậy khi Động Nọc. Đây là 1 dị luật các ĐT cần lưu ý.

    -Ý kiến riêng: trong LT TTSĐ, thời gian dành cho chờ ĐỘNG NỌC DẬY THIÊN KHAI nên dài hơn cho chờ ăn, chờ Phỗng 2 đến 3 giây đồng hồ.

    c-THIÊN KHAI ĂN KHÀN TRÌNH PHU: là Bất Thực Thiên Khai(không ăn Thiên Khai), chỉ úp 3 quân bài dưới chiếu (chỉ Ăn Khàn) cùng với một phu dọc tổ hợp từ 1 quân trong Thiên Khai. Phu này ngửa lên để trình làng dưới chiếu.

    d-BẤT THỰC THIÊN KHAI BẤT THỰC KHÀN: Thiên Khai A.

    d1: không ăn Thiên Khai A 4 quân, cũng không ăn Khàn A 3 quân mà cầm cả trên tay 4 quân A trong Thiên Khai, lấy về 2 cái Chén Bất Thực.

    d2: TT Chiếu nhiều vùng qui định nếu muốn Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn bắt buộc phải có ít nhất 2 phu dọc tổ hợp từ quân A trong Thiên Khai. Tương tự yêu cầu buộc có 1 phu dọc trong Bất Thực Khàn là không hợp lý nên TT SĐ cũng bỏ qui định này.Ví dụ tương tự khi Bất Thực Khàn 7 văn mà có Bí Tư vạn sách của các quân Tam, Thất khác. Lưu ý khi Ù mà quân A không tạo thành phu dọc tương ứng nào và chỉ tạo ra1 phu bí thì phải HÔ Ù Bí Hoàn Bí mới có điểm.

    d3: Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn được phép đánh đi 2 quân trong Thiên Khai.

    d4: Khi Ù thì HÔ Ù, XƯỚNG Ù tương tự như khi Bất Thực Khàn, có khác số quân ăn và số quân đánh đi và không có Phỗng Tái Kiến hoặc Kiến Bất Tái.

    d5: TT Chiếu nhiều vùng qui định Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn lấy về 2 chén một úp, một ngửa cũng không cần thiết, gây rối cho Game, TT SĐ nên bỏ.

    Thực ra, người chơi đều không rõ trả chén ngửa, trả chén úp thế ra sao, kể cả trong Game.

    e-THIÊN KHAI HỎNG: tương tự Khàn, nếu quên Dậy Thiên Khai bị Khê Thiên Khai(trong Game Dậy Thiên Khai tự động nên không có lỗi này); nếu quên Thiên Khai trên tay bị Treo Thiên Khai và nếu Ù cũng sẽ Ù Lành Làng.


    19-ĐIỂM Ù: các dạng bài Ù với số điểm khác nhau. Câu vắn tắt qui định tính điểm Ù khi bắt đầu chơi Tổ Tôm Chiếu ở nhiều vùng Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh... vào Thế Kỷ 20 là “SUÔNG HAI, DỊCH MỘT, TÔM BỐN, LÈO NĂM; BỘI TAM, BỘI TỨ, BỘI LỤC”. Ù Suông là tiếng Ù cơ sở(không có Dịch nào) được qui định là 2 Điểm. Cũng có nơi chơi “Suông 3 Dịch 1”, “Suông 4 Dịch 2”...

    a-ĐIỂM, DỊCH:

    -ĐIỂM: qui định số lượng đơn vị Điểm cho một tiếng Ù.

    -Dịch: là số Điểm Thưởng thêm cho một tiếng Ù, 1 Dịch là 1 Điểm với qui tắc “Suông 2 Dịch 1”.

    b-TỨ TRỤ: là 4 Cước Sắc Ù nhiều Điểm khi chơi Tổ Tôm, được tính theo Ù Suông là “BỘI TAM, BỘI TỨ, BỘI LỤC”.Ù Thập Điều, Ù Kính Cụ bằng 3 ván Suông(Bội Tam); Ù Bạch Định bằng 4 ván suông(Bội Tứ); Ù Chi Nẩy bằng 6 ván suông(Bội Lục). Đặc biệt Ù Kính Tứ Cố bằng 2 ván Chi Nẩy, nhiều điểm hơn cả Ù Tứ Trụ.TTSĐ đang tính Kính Tứ Cố bằng 9 ván suông, có thể gọi là Bội Cửu được.

    c-Ù SUÔNG: tính là 2 Điểm.

    -Ù Suông là Ù ván đầu tiên, không có cước sắc gì kèm theo.

    d-Ù THÔNG = SUÔNG(2 Điểm) + 1 DỊCH (là 1 Điểm) = 3 ĐIỂM.

    -Ù THÔNG là ù ván thứ hai liên tiếp. Ù Thông ván thứ ba tiếp theo, được gọi là Tam Khôi.

    e-Ù TÔM = THÔNG (3 Điểm) + 1 DỊCH(1 Điểm) = 4 ĐIỂM.

    -Ù TÔM là ù mà trong bài có lưng THẤT VĂN + TAM VẠN + TAM SÁCH.

    f-Ù LÈO = TÔM + 1 DỊCH = 5 ĐIỂM.

    -Ù LÈO là ù mà trong bài có lưng CHI CHI + CỬU VẠN + BÁT SÁCH.

    g-Ù KÍNH CỤ =Ù THẬP ĐIỀU = BỘI TAM SUÔNG = 3x2=6 ĐIỂM.

    -Ù KÍNH CỤ là ù mà trong bài có 20 Quân Đen với 1 QUÂN ÔNG CỤ.

    -Ù THẬP ĐIỀU là ù mà trong bài có 11 Quân Đen với 10 QUÂN ĐỎ.

    -Có vùng gọi Ù Thập Điều là Ù THẬP HỒNG hay Ù MƯỜI ĐỎ.

    h-Ù BẠCH ĐỊNH = BỘI TỨ SUÔNG = 4x2 = 8 ĐIỂM.

    -Ù BẠCH ĐỊNH là ù mà trong bài chỉ có 21 Quân Đen.

    i-Ù CHI NẨY = BỘI LỤC SUÔNG = 6x2 = 12 ĐIỂM.

    -Ù CHI NẨY là Ù mà bài lẻ quân rác Cửu Vạn, Bát Sách chờ duy nhất một quân Chi Chi.

    -Nếu Chiếu Làng qui định “Buộc Vào Thành” mà không Vào Thành, chỉ được Ù Chi Lèo.

    k-Ù KÍNH TỨ CỐ = HAI CHI NẨY = 2x12 = 24 ĐIỂM.

    -Ù KÍNH TỨ CỐ là Ù mà bài có 17 Quân Đen với 4 QUÂN ÔNG CỤ.

    l-Ù BẠCH THỦ = Ù TÔM = 4 ĐIỂM.

    l1: Ù BẠCH THỦ là Ù mà bài chờ duy nhất 1 tiếng Phỗng Ù.

    l2: Lệ Làng một số vùng qui định thêm không phải chờ Ù với bài chạm thành.

    l3: TT Chiếu một số vùng thêm điều kiện Ù Bạch Thủ là 2 quân của Phỗng Ù đều là quân rác sẽ không hợp lý vì Cước Ù Bạch Thủ chỉ bằng Tôm, không đòi hỏi điều kiện khó thế.

    l4: Lưu ý: một trường hợp đặc biệt, Bài Thành, chỉ tạo lưng được từ duy nhất 1 Phỗng Ù thì cũng là Ù Bạch Thủ. TTSĐ lưu ý lập trình Tiếng Ù này cho hợp lý.

    m-Ù XUYÊN NĂM GIAN = Ù LÈO = 5 ĐIỂM.

    -Ù XUYÊN NĂM GIAN là Ù thành phu dọc có 5 quân mà Quân Ù xen vào giữa 4 quân rác . Ví dụ bài còn quân rác 2356 văn, chờ Quân Ù 4 văn.Lưu ý các quân rác là chưa gá vào bất kỳ phu nào, đặc biệt không phải quân Yêu.

    n-Ù XUYÊN BÍ TƯ = Ù LÈO = 5 ĐIỂM.(một số vùng gọi là Bí Tư).

    n1: Ù XUYÊN BÍ TƯ là ù thành phu bí có 5 quân và duy nhất một Quân Ù xen vào giữa 4 Quân Rác. Ví dụ bài rác 2 con 4 vạn, 2 con 4 sách chờ Quân Ù 4 văn. Lưu ý các quân rác là chưa gá vào bất kỳ phu nào, đặc biệt không phải quân Yêu. Không có Ù Xuyên Bí Tư với Quân Ù là Nhị Văn với quân rác Nhị Vạn, Nhị Sách(vì chờ được cả 8 văn) hoặc Quân Ù là Tam Văn với quân rác Tam Vạn, Tam Sách (vì chờ được cả với 7 văn). Khi bài chưa có lưng, Ù được Xuyên Bí Tư với Quân Ù là 7 văn thành Bí Tôm (rác 2 quân 3 vạn, 2 quân 3 sách) hoặc 8 văn thành Bí Sườn(rác 2 quân 2 vạn, 2 quân 2 sách). TTSĐ cũng cần lưu ý lập trình điều này cho đúng luật.

    n2: Ù Xuyên Bí Tư cũng không tính cho trường hợp Bất Thực Khàn ăn đón, ví dụ Bất thực Khàn 4 vạn(không có phu nào kèm theo), rác thêm 1 quân 4 sách, thì lên 4 văn cũng không được tính là Xuyên Bí Tư. Trường hợp này, nếu là rác 2 quân 4 sách, lên 4 văn là Xuyên trôi 5 quân, cũng chưa thấy Lệ Làng xưa hay TTSĐ đề cập. Theo mình như vậy được tính là Xuyên Bí Tư, vì nó đáp ứng thừa Xuyên Bí 4 quân rác, dù Khàn là tự ĐT làm rác. Game TTSĐ đang lập trình tự động không cho Bất thực ăn đón khi không có bất kỳ phu dọc, phu bí nào kèm theo.

    n3: Ý kiến riêng: Ù Xuyên Bí Tư cũng nên bỏ điều kiện chờ duy nhất một Quân Ù, bớt độ khó vì cước ù cũng chỉ bằng Lèo.

    o-Ù TAM KHÔI = TÔM = 4 điểm, 1 dịch. Ù một tiếng cước sắc có thêm Tam khôi = Điểm Tiếng Ù thông thường + 1 dịch của Tam Khôi(1 Điểm).

    -TAM KHÔI là chỉ việc Ù Thông đến ván thứ ba liên tiếp.

    -Ví dụ:Ván thứ nhất ù Suông, ván thứ hai Ù Tôm, ván thứ ba Ù lèo thì có TAM KHÔI LÈO = LÈO + TAM KHÔI = 5 + 1 = 6 ĐIỂM.

    p-Ù TỨ KHÔI ĐẾN N-KHÔI= ĐIỂM Ù THÔNG THƯỜNG + THÔNG N KHÔI = ĐIỂM Ù THÔNG THƯỜNG + (N – 2) x DỊCH.

    -Ví dụ: TỨ KHÔI TÔM = TÔM + TỨ KHÔI = 4 + 2 = 6 ĐIỂM.

    BÁT KHÔI KÍNH CỤ = KÍNH CỤ + (8 – 2) x 1 ĐIỂM = 12 + 6 = 18 ĐIỂM.

    -Ý kiến riêng: Việc một nhà Ù Thông nhiều đầu tiên do nhà đó vào dây đỏ, trình độ cao và do nhà trên đánh có vấn đề.Với nguyên tắc thưởng phạt nghiêm minh, trách nhiệm quyền lợi rõ ràng, nên có phạt với nhà trên này. Ở chỗ mình, nhà dưới mà Ù Thông đến ván N là nhà trên phải vào gà trong (N-2)x 1 DỊCH, TTSĐ có thể xem xét nội dung này.

    q-TTSĐ vận dụng công thức SUÔNG 4, DỊCH 2, TÔM 8, LÈO 10....BỘI TAM, BỘI TỨ, BỘI LỤC, BỘI CỬU (Kính Tứ Cố chỉ tính gấp rưỡi Chi Nẩy). Bạch Thủ, Thiên Ù, Tam Khôi bằng Tôm. Xuyên bằng Lèo.

    -Bài Ù có nhiều cước sắc thì tính theo công thức = Điểm của Tiếng Ù cao nhất + Dịch của các cước sắc khác. Dịch cộng thêm của cước Thông, Tôm, Tam Khôi, Bạch Thủ là 1 Dịch, bằng 2 Điểm(Mỗi Khôi tiếp theo đều cộng thêm 1 Dịch). Dịch cộng thêm của cước Lèo, Xuyên là 2 Dịch, bằng 4 Điểm. Tứ trụ thì số Dịch cộng thêm bằng số Bội.

    Ví dụ: Thập Điều, Chi Nẩy, Tôm = Chi Nẩy(36 điểm) +3 Dịch Thập Điều(6 điểm) +1 Dịch Tôm(2 điểm) = 44 Điểm.

    r-DỊ LUẬT KHÁC: Một số vùng có thêm các Tiếng Ù khác, nhưng không phổ cập như Xuyên 2 Quân, Xuyên 3 Quân (mình cứ hay gọi là XIÊN), KÍNH BÀ LÃO...


    20-CHIẾU: khi chơi Tổ Tôm, Chiếu là một ước lệ về vị trí ngồi của người chơi, nơi để bài, nọc, chén, các phu đã ăn, úp Khàn, Thiên Khai.

    a-CHIẾU LÀNG: chính là một bàn chơi, nếu đủ có 5 người chơi và đủ các phụ thuộc khác(người phục vụ, đồ chuyên dùng,bộ bài chuẩn, trang bị riêng).

    -Trong 1 Chiếu Làng, khi chơi Tổ Tôm Bí Ngũ có 5 nhà: bản thân Đấu Thủ A, NHÀ TRÊN, NHÀ DƯỚI, 2 NHÀ CHÉO.

    - Đấu Thủ cố gắng TRÁNH TRÊN, ĐÌ DƯỚI, PHỤC VỤ CHÉO CÁNH, tìm cách HỢP CẠ.

    b-DƯỚI CHIẾU: chính là trên MẶT CHIẾU, là trong CHIẾU LÀNG.

    c-VÀO CHIẾU: là tham gia vào bàn chơi.

    d-CAO THẤP: trong Chiếu Làng, hết cuộc chơi sẽ có người thua được, thông qua kết quả người ta phân biệt trình độ CAO THẤP.

    - Có câu sặc mùi “Tinh thần A.Q” là “SẮC NHƯ NƯỚC CŨNG THUA NHÀVẬN ĐỎ”.

    - Trong Chiếu Làng có nhiều câu chê bai, khích bác, hài hước: “THẤP NHƯ VỊT”, “MÁY PHÔ TÔ CÓP PY”, “PHỖNG PHỤC VỤ”, “CỦA NÚI”, “CHÈO ĐÒ CHO MÁT”, “TREO TRANH BÁN TẾT”, “GÀ, VỊT, ẾCH”, “MANG CHÉN VỀ UỐNG NƯỚC”...


    21-CHÉN: dùng bất thực khi chơi Tổ Tôm, để trên chiếu, cạnh đĩa Nọc.

    a-SỐ CHÉN: số lượng chén dùng bất thực có thể nhiều hơn, nhưng thông thường mỗi Chiếu Làng chơi Tổ Tôm Chiếu chuẩn bị 3 chén.

    b-LOẠI CHÉN: các Chén Bất Thực đồng loại, nhưng khi dùng nhiều vùng có qui định thêm “Chén Úp, Chén Ngửa”.

    c-CHÉN ÚP, CHÉN NGỬA: qui định dùng chén ở một số vùng cho Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn.

    d-TRẢ CHÉN: thao tác trả lại CHÉN cho làng khi toàn bộ các quân bài trong Khàn Bất Thực đã lộ ra trên chiếu, dù là để ăn hay Ù. Khi Trả Chén cần hô đúng nếu không Ù sẽ bị phạt thành Ù Lành Làng.

    -Thao tác TRẢ CHÉN: HẠ PHU + BÁO TRẢ CHÉN + HÔ TRẢ CHÉN + TRẢ CHÉN.

    e-CHÉN Trong LT TTSĐ: số chén dự trữ cho bất thực là không hạn chế. Tuy có hình vẽ Chén Ngửa, nhưng không thực hiện “Chén Ngửa, Chén Úp” vì bất cập và không thật cần thiết.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 19/4/21
    pdhienMod01 thích điều này.
  12. TỪ, THÀNH NGỮ TỔ TÔM BÍ NGŨ CHO GAME ONLINE SÂN ĐÌNH (Tiếp theo)

    22-LỆ LÀNG: là qui định riêng của một làng thôn, vùng miền về một lĩnh vực nào đó. LỆ LÀNG CHO CHƠI Tổ Tôm Chiếu là các qui định phải tuân theo khi chơi ở địa phương đó. LỆ LÀNG trong chơi Tổ Tôm Chiếu là một thứ “LUẬT BẤT THÀNH VĂN” của Tổ Tôm.

    a-“PHÉP VUA THUA LỆ LÀNG”: đến đâu chơi phải theo Lệ Làng ở đó. Do vậy mọi cuộc chơi Tổ Tôm, bắt đầu Vào Chiếu, chủ nhà hoặc người có uy tín nhất, hay NHÀ BẮT CÁI ĐẦU sẽ công bố LỆ LÀNG.

    b-NHẬP GIA TÙY TỤC: bởi tính chất Lệ Làng như đã nêu, không nói ai đúng ai sai, phải chấp nhận “Luật Bất Thành Văn” được công bố khi tham gia.

    c-BIỆT LỆ, DỊ LUẬT: là qui định khác biệt, mới có so với những điểm chung của nhiều Lệ Làng.

    d-GÀ: là phần Điểm Dịch người Ù được hưởng thêm tương ứng một số Tiếng Ù theo qui định.

    d1: GÀ TRONG: trừ ĐIỂM DỊCH theo qui định chung, một số Chiếu Làng chơi thêm GÀ TRONG, tức là với một số Tiếng Ù đặc biệt, người Ù được ăn thêm con GÀ TRONG. GÀ TRONG do tất cả ĐT trong làng góp vào 1 lần, có thể bổ sung nhiều lần bằng nhiều cách. Có con GÀ TRONG nhiều ván chưa bị bắt, “GÀ GIÀ THÀNH ĐÀ ĐIỂU”, “BÉO Ị”, quyết định được thua cả hội bài.

    d2: CÁC LOẠI GÀ TRONG:

    +GÀ CÔNG NGHIỆP: tạo thành do ĐT phải góp gà (thường là 1 dịch) cho mọi trường hợp: Gà Đầu Ván(bắt đầu mọi ván chơi) + Gà Nhái(các ĐT không bị nhái góp) + Gà Đánh Ù(người đánh ra Quân Ù phải góp) + Gà Thông(nhà trên người ù góp bằng dịch của Thông, Tam Khôi, Tứ Khôi...N Khôi) + Gà Bỏ Ù, Gà Ù Lành Làng, Gà Ù Báo, Gà Đền Làng(ĐT mắc lỗi này phải góp) + Gà Quân Lộ (ĐT làm lộ quân do Hạ Phu Thừa. Gà này lập trình khó, chắc phải hoàn thiện dần) + Gà Bị Đè Ù(ĐT bị đè ù), Gà Đầu Hội(góp trước ván đầu tiên, thường to hơn Gà Đầu Ván)...Tùy Lệ Làng mà số GÀ CÔNG NGHIỆP thêm bớt, nhiều ít khác nhau.

    +GÀ NHÀ: chỉ áp dụng góp gà với các lỗi mắc phải.Bỏ Gà Đầu Ván(vẫn còn 1 con Gà Đầu Hội), Gà Nhái, Gà Bị Ù Đè...

    +GÀ RỪNG: chỉ áp dụng góp góp Gà Đầu Hội với gà cho các lỗi nặng như Gà Ù Báo, Gà Đánh Ù, Gà Ù Thông...

    +GÀ LÀNG: ngoài ý nghĩa là tên gọi chung cho các loại Gà, còn là một qui định góp GÀ mặc định, không cần chủ bàn cài đặt. Thí dụ, bàn chơi không cài đặt gà, mọi người ĐÁNH ra quân Ù(vào gà 1 dịch), Đánh nhà dưới Thông nhiều(vào gà 1 dịch). Gà Làng do người Ù Tứ Trụ được hưởng.

    d3: GÀ NGOÀI: Điểm Dịch người Ù được hưởng thêm, qui định theo một số Tiếng Ù, có thể bằng tới số dịch của cước sắc. Thí dụ GÀ CƯỚC SẮC được hưởng thêm khi Ù có Tôm, Lèo hay Ù Tứ Trụ.

    +GÀ ĐƠN: chỉ tính Gà Cước Sắc với cước sắc lớn nhất. Ví dụ:ván Ù Thập Điều, Tôm, Lèo, Xuyên Bí Tư chỉ tính một cước sắc của Gà Thập Điều(trả thêm cho ĐT ù 3 dịch).

    +GÀ CHỒNG: bài Ù có bao nhiêu cước sắc, cộng tất cả.Ví dụ với ván Thập Điều Tôm Lèo Xuyên Bí Tư, tính gà bằng Dịch Cước Sắc sẽ có: Cước Sắc Thập Điều(Bội Tam = 3 dịch), Cước Sắc Tôm(=1 dịch), Cước Sắc Lèo(=2 dịch), Cước Sắc Xuyên Bí Tư(=Lèo = 2 dịch). Tổng Cộng Gà Chồng phải trả thêm cho người ù là 8 Dịch.

    d4: Lưu Ý từ dùng Gà Ngoài, Gà Trong hay bị lẫn lộn.

    d5: Chiếu Làng vui chơi có thưởng có hai dạng: ĐÁNH GOM và ĐÁNH QUĂNG.

    +Đánh Gom: các ĐT góp 1 số điểm bằng nhau đầu mỗi Hội Bài vào quĩ chung(hay gọi là Tiền Làng). Ai Ù thì lấy Điểm trong tiền làng.Đánh hết Hội thì gom tiếp. Thường Đánh Gom mới có Gà Ngoài. Đánh Gom việc thua được đỡ sát phạt hơn. Tổng số Điểm Gom Đầu Hội thường = 2 Chi Nẩy + 1 Dịch.

    +Đánh Quăng: mỗi ván Ù, các ĐT trả luôn cho người Ù số điểm của ván. Đánh Quăng thường chỉ chơi Gà Trong.

    d6: TRẬN BÀI, CANH BÀI: là cả một buổi chơi, từ ván đầu đến lúc kết thúc.

    d7: HỘI BÀI: một lần góp của các ĐT khi Đánh Gom. Hết Hội, các ĐT lại gom tiếp.

    d8: VÁN BÀI: từng ván chơi trong mỗi Hội Bài, Canh Bài.

    e-CHỊU,CHẠY, BỎ BÀI: thấy bài xấu quá xin không tham gia ván chơi.

    -Mỗi vùng qui định điều kiện cho CHỊU, CHẠY, BỎ BÀI khác nhau.

    -Tổ Tôm Chiếu nhiều vùng cho tới 2 người chịu. TTSĐ chỉ nên cho phép 1 người chịu(nếu có lập trình).

    f- NHẤT TIÊU NHỊ XƯỚNG (có nơi nói là Nhì Xướng):

    f1: Việc NHÌN thấy quân bài, phu bài, ván bài quan trọng hơn việc nghe XƯỚNG, HÔ về quân bài, phu bài, ván bài đó.

    f2: Đúng sai khi ăn,phỗng, dậy, Ù với 1 quân bài thì “THỰC MỤC SỞ THỊ” = “NHẤT TIÊU” là quyết định.ĐT NGHE thấy mở nọc hay đánh ra 7 văn rồi ăn, phỗng, dậy, ù lại sai vì đó là con 7 vạn thì ĐT bị sai, còn Làng đúng vì NHÌN thấy con 7 vạn nằm đó.

    f3: Chơi TT Chiếu, ĐT còn hay dùng tiếng lóng để gọi Quân Bài, thì việc Nhất Tiêu Nhị Xướng càng quan trọng.

    f4: NHẤT TIÊU NHỊ XƯỚNG còn một lối giải thích khác: trước khi ăn, đánh, ù với quân bài, ĐT phải nhìn kiểm tra thấy đúng lại rồi hãy xướng.

    g-NHẤT NHỊ TẠI VỊ: chỉ việc chọn Bài Cái trong TT Chiếu, khi số dư tổng 2 Quân Bài Bắt Cái chia 5 là 1 hoặc 2 thì phần bài đầu tiên, bên phải là Bài Cái.

    -LT TTSĐ Bắt Cái bằng 1 quân, nên chỉ ngay ra Bài Cái, không vận dụng Nhất Nhị Tại Vị. Lưu ý bổ sung vào LT TTSĐ các quân Yêu Đỏ có số đếm là 10 để tạo sự công bằng có cái cho cả 5 ĐT.

    h-NHẤT YÊU NHỊ CỬU(có nơi nói là Nhì Cửu):

    h1: kinh nghiệm việc sử dụng quân bài trong một số trường hợp. TT Chiếu quan niệm Quân Yêu và Quân Cửu có tính chất đặc biệt hơn các quân bài khác.

    h2: Bù Thừa Thiếu: khi lên bài trong TT Chiếu, có nhà Thừa quân sẽ trả lại quân Yêu Đen hay Quân Cửu cho làng.

    h3: Cho Bài Cái: TT Chiếu Bắt Cái bằng 2 con,thường sẽ cho Bài Cái quân Yêu Đen hoặc quân Cửu.

    h4: LT TTSĐ Bắt Cái bằng 1 quân, chia bài luôn đủ nên cũng không vận dụng Nhất Yêu Nhị Cửu thành qui định. Các ĐT vận dụng kinh nghiệm “Nhất Yêu Nhì Cửu” theo riêng bản thân.

    i-ĐÊM VĂN NGÀY VẠN:

    i1: quan niệm về chất bài sử dụng khi đánh, khi chờ.

    i2: KHI ĐÁNH: nhiều vùng quan niệm, khi đánh ra quân đầu tiên,nếu được lựa chọn, Đêm đánh hàng Văn, Ngày đánh hàng Vạn.

    i3: KHI CHỜ Ù: nhiều vùng quan niệm, khi Chờ Ù, nếu được lựa chọn, Đêm chờ Ù quân hàng Văn, Ngày chờ Ù quân hàng Vạn.

    k-MỘT LY ÔNG CỤ: qui định chơi nghiêm khắc, chặt chẽ, ngặt nghèo trong một Chiếu Làng. Bởi Lệ Làng có khác biệt, nên “MỘT LY” này dài ngắn khác nhau(ví dụ 1 thước Tầu bằng 1/3 của 1 thước Việt Nam); “Ông Cụ” này cũng phong cách khác nhau(thời “a – còng”, 70 tuổi cặp kè hót –gơn thấy đầy). Do vậy, với TT SĐ, “Một Ly Ông Cụ” chỉ vận dụng tinh thần công bằng, nghiêm túc: “HẠ TỊCH BẤT HỒI”, loại trừ “TIỀN HẬU BẤT NHẤT”. Game là phần mềm tự động, nên TTSĐ đối với mọi nơi, mọi lúc đều là “Một Ly Ông Cụ”.

    l-MỘT THÀNH HAI CHỜ:

    l1: qui định về điều kiện ĐT phải thực hiện khi ăn quân, đánh quân trước hai quân bài mở Nọc cuối cùng. Khi bị Đấm Yêu, Dậy Khàn được miễn trừ điều kiện Một Thành Hai Chờ. Một số Lệ Làng không miễn trừ cho việc Dậy Khàn.

    l2: MỘT THÀNH: khi còn MỘT QUÂN MỞ NỌC cuối cùng, ĐT muốn ăn một quân rồi đánh ra một quân khác phải có Bài Thành(hoặc Thập Thành). Nếu không đủ điều kiện MỘT THÀNH, ĐT đánh ra quân bài,là Quân Ù nhà khác chờ, ĐT sẽ phải đền ván Ù đó thay cả làng.

    l3: HAI CHỜ: khi còn HAI QUÂN MỞ NỌC cuối cùng, ĐT muốn ăn một quân rồi đánh ra một quân khác phải có Bài Chờ Ù(hoặc tốt hơn). Nếu không đủ điều kiện HAI CHỜ, ĐT đánh ra quân bài là Quân Ù nhà khác chờ, ĐT sẽ phải đền ván Ù đó thay cả làng.

    l4: LT TTSĐ chưa thực hiện được qui định hợp lý này, cần cố gắng Lập Trình trong thời gian tới. Các người chơi cũng lưu ý khi đang TEST thực nghiệm, thực hiện dần qui định MỘT THÀNH HAI CHỜ cho quen, có thể tham gia được TT Chiếu.

    l5: Trong Bài Nọc của Game TTSĐ, Quân Một Thành là quân bài số 6; Quân Hai Chờ là quân bài số 7.

    m-TIỀN ĐIỂM BINH, HÂU ĐIỂM BỐI(có nơi nói là KIỂM):

    m1: là yêu cầu, là kinh nghiệm của các ĐT khi bắt đầu ván bài hay khi Chờ Ù, Xướng Ù.Điều kiện này liên quan chặt chẽ qui định “THỪA THIẾU, KHÔNG LƯNG PHẢI CHÈO ĐÒ” là bắt Báo lỗi nặng.

    m2: TIỀN ĐIỂM BINH: đầu tiên là đếm bài mình có đủ quân.

    m3: HẬU ĐIỂM BỐI: sau khi Điểm Binh, xem bài có Lưng chưa.

    m4: TRong LT TTSĐ chia bài tự động, bao giờ cũng đủ Quân nên việc Điểm Binh đủ thiếu không cần. Có chăng xem còn Quân Rác ẩn náu, lẫn vào đâu thôi. Việc Điểm Bối vẫn phải nghiêm túc kiểm tra.

    n-BUÔN PHU: không ăn một quân đến trước,một phu có trước lại ăn một quân đến sau tạo thành phu có sau, bị làng bắt lỗi, bắt Báo.

    o-BẮT BÁO:

    o1: bắt người chơi phạm lỗi bị phạt Báo, đền làng.

    o2: Tổ Tôm Chiếu tùy Lệ Làng có các mức phạt Báo khác nhau. Bắt Báo do ĐT khác trong cùng chiếu chơi thực hiện.

    o3: LT TTSĐ Bắt Báo tự động, mức phạt cũng nêu sẵn trong Luật TTSĐ.

    o4: BÁO NGỒI ĐẤY: ĐT bị Bắt Báo, phải ngồi yên, đợi làng chơi tiếp hết ván bài, ai ù thì đền thay làng cả ván đó.Báo Ngồi Đấy do phạm lỗi nặng khi Ăn, Đánh.

    -TTSĐ là bài lá Online, các trường hợp Báo Ngồi Đấy đều chuyển thành Báo Đền Làng.

    o5: BÁO ĐỀN LÀNG: ĐT bị bắt báo và Đền Làng ngay theo qui định. Tại TTSĐ khi Ăn Đánh đền ngay bằng ván Thập Điều.

    o4: Ý kiến riêng: sau này Game lập trình sẽ có người chơi bắt báo ngoài việc Bắt Báo tự động. Bắt báo đúng, người bắt báo được người ù báo trả thêm nửa số điểm của ván bài báo. Bắt báo sai, người bắt báo phải trả thêm cho người ù đúng 1 dịch. Nếu ván bài đã xong, ĐT báo về nhà mạng, cũng được hồi trả số điểm thua oan và được thưởng, vì đây thuộc lỗi kỹ thuật từ nhà mạng.

    p-YÊU HOÀN YÊU, BÍ HOÀN BÍ:

    p1: cho các Quân Yêu về thành phu độc lập, cho các quân bài khác trở về phu bí của nó trong diễn biến Xoay Bài để Ăn Quân, Đánh Quân, Ù.

    p2: YÊU HOÀN YÊU: Quân Yêu ban đầu tổ hợp với quân bài khác thành phu bí, phu dọc(hoặc chỉ để ĂN ĐÓN) nay do diễn biến xoay bài còn đứng 1 mình, trở thành Phu tròn độc lập. Ví dụ ăn 1,2,3 văn; sau đó Xoay bài đưa 2 văn thành Bí Nhị, đưa 3 văn thành Bí Tam, còn độc lập 1 văn trên chiếu là Quân Trôi, Phu Tròn gọi là Yêu Hoàn Yêu. Nếu Hoàn Yêu trong Bất Thực Yêu cần xướng “Bất Thực Nhất Văn, Yêu Hoàn Yêu, ăn cả trả chén làng”.

    p3: BÍ HOÀN BÍ: quân thường A ban đầu(có 2,3,4 quân này) đã nằm trong phu bí A của nó lại tổ hợp với quân khác thành phu dọc(hoặc phu bí khác hoặc ĂN ĐÓN), sau đó xoay bài tất cả quân A đều trở về phu bí A. Ví dụ Bất Thực khàn Thất Văn, có phu bí Tôm(coi là phu A), có 789 văn, có phu bí Thất với 7 vạn, 7 sách. Xoay bài, 8 văn tạo thành Bí Bát; 9 văn tạo thành Bí Cửu vậy là trơ ra 1 con 7 văn; 7 vạn tạo thành dọc 567 vạn, 7 sách tạo thành 567 sách vậy là trơ ra thêm 1 con 7 văn. Khi Trả Chén Bất Thực trong ván hay khi Ù, hai con 7 văn bị trơ ra đó trở về Bí Tôm là hợp lệ, nhớ xướng “Bất Thực 7 văn,Bí Hoàn Bí, ăn cả trả chén làng” là được. Khi Bất Thực Khàn, Bất Thực Thiên Khai không có phu dọc, nhưng lại tạo ra hơn một phu bí, thì cũng không phải hô Bí Hoàn Bí.

    q- TỔ TÔM ĐIẾM,TỔ TÔM BÍ TỨ, TÀI BÀN, CHẮN có một số Từ, Thành Ngữ riêng, qui định riêng được dành cho phần Luật khác,lĩnh vực khác không nêu tại đây. Một số từ ngữ trong Tổ Tôm đi vào đời sống hoặc “Tên Lóng Quân Bài” cũng không cần giải thích như “GÀN BÁT SÁCH”, “THÂN CỬU VẠN”, “Ngôi Chùa”, “Con Cá”....

    Game Tổ Tôm có khác với Tổ Tôm Chiếu vì tính chất mạng Internet như Chia Bài, Bắt Cái, Mở Nọc Chờ Chi Nẩy, Phân Biệt Chén...

    r-LỆ LÀNG TRONG LT TTSĐ: TTSĐ lập ra Game bài lá dân gian, là tiếp thu tinh hoa cơ bản của các Lệ Làng, có bổ sung, hoàn thiện để thích hợp thời nay , phù hợp mạng Internet. Khi lập thành văn bản, công bố rồi đưa vào sân chơi, Sân Đình đã tạo ra LUẬT TỔ TÔM GAME BÀI LÁ DÂN GIAN đầu tiên, duy nhất tại Việt Nam và quốc tế.

    TỪ VÀ THÀNH NGỮ TỔ TÔM THẾ KỶ 20 là một phần cơ sở luật Tổ Tôm Bí Ngũ cho Game TTSĐ, rất mong bạn chơi gần xa góp ý để hoàn thiện.

    -P/S: chỉnh sửa 18/4/2021.


    HÀ NỘI 17/02/2021

    NGUYỄN TIỂU THƯƠNG. 126 BIÊN GIANG, HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI. ĐT: 091 3288260
     
    Tào TháoMod01 thích điều này.
  13. tuanviethung1983

    tuanviethung1983 Dân đen

    Rất cảm ơn ban quản trị đã tổ chức cho ae chơi tổ tôm
     
    Nguyễn Tiểu ThươngMod01 thích điều này.
  14. Tào Tháo

    Tào Tháo Đại Gian Thần

    Tiếp nối lời Thầy!
    Trích Cổ thi trong tranh Du Xuân Đồ:

    Bài tôi ăn thưởng không thang
    Lục văn cũng nghĩ kết ngang chẳng cầm.
    Kết ngang: Ba quân bài cùng bậc của ba hàng (Phu bí). Thí dụ Lục văn, Lục sách, Lục vạn.

    Tam khôi bắt kiệt tưng bừng
    Tinh thần đứng dậy tâm trường múa lên.
    Bắt kiệt: Bắt được quân bài kiệt (hay cạn), tức là quân bài hiếm.

    "Đánh tổ tôm, nước ăn, nước bốc cũng lắm nước cao, mà được trúng ý mình thì thích chí lắm. Có lúc bốc được những con bài kiệt thì sướng vô cùng, cho nên có câu rằng :"thiên tử bất như tứ vạn" Việt Nam Phong Tục - Phan Kế Bính.

    ^:)^^:)^^:)^
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  15. kiếp đỏ đen hp

    kiếp đỏ đen hp Phó ban TCSK Chắn hội Hải Phòng

    xin đoạn kết Cụ Tào ơi
     
    Nguyễn Tiểu ThươngMod01 thích điều này.
  16. NguyenAn1234Chan

    NguyenAn1234Chan Dân đen

    Hoan hô Tổ Tôm Sân Đình đã có nhạc, có tiếng. Riêng lời thoại cần phải bỏ nhưng cụm từ mà trong dân gian không có và thực tế cũng chăng ai hiểu được ý nghĩa là gì. Ví dụ: Diệp Nhị Nương; Bích Vân Tiên Tử; Cửu Văn Long Sử Tiến; Tam Nương; Thất Sách Hạ Thiên Sơn. Theo tôi nên bỏ.

    Ta có thể dùng Tên gọi vui cho các quân bài mà các cụ xư hay dùng như sau:

    Nhị Vạn-Hoa đào hoặc Hoa Mơ; Mùa Xuân.
    Tứ Vạn-Xe bò hoặc Xe Cải Tiến.
    Ngũ vạn-Chùa đình.
    Lục Vạn-Quốc ơ hoặc cuốc thuổng; lười lao động.
    Bát Vạn-Trắm Thần hoặc Cá Chép; Con Cá.
    Cửu Vạn-Vác đá hoặc Vác Nặng.
    Nhị Văn-Quàng Khăn.
    Tứ Văn-Tứ Bê Tương.
    Ngũ Văn-Ngồi xổm
    Lục Văn-Chọc Bưởi.
    Bát Văn-Cà kheo
    Nhị Sách-Chống gậy
    Tam Sách-Đội Nón.
    Ngũ Sách-Thuyền Tình
    Lục Sách-Đông con.
    Cửu Sách-Đèn Lồng.

    Còn cụm từ: Chờ mãi mới được vẫy, nếu dùng nhiều nghe cũng thấy nhàm; nên dùng vài cụm từ khác để đổi nhau.

    Tôi có một vài ý như vậy. Mong được các Mod nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn.
     
  17. Mod01

    Mod01 Administrator

    Cảm ơn chú đã đóng góp ý kiến. Thời gian tới khi game đi vào ổn định Sân Đình sẽ sửa đổi bổ sung thêm nhiều câu thoại để game trở nên sinh động hơn chú nhé. Thông tin đến chú.
    Trân trọng!
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.