[Hướng Dẫn] Tổ Tôm Sân Đình

Thảo luận trong 'Hội Bô Lão Sân Đình' bắt đầu bởi Hội Bô Lão Sân Đình, 21/2/21.

  1. GỬI CẢ NHÀ
    Trong khi chờ đợi có TÀI LIỆU TỔ TÔM SÂN ĐÌNH, Hội Bô Lão góp nhặt dần các Từ Ngữ, Thành Ngữ của người xưa dùng khi chơi Tổ Tôm nhé, mà tập trung vào Tổ Tôm Bí Ngũ. Thực ra, đó cũng là “Luật Bất Thành Văn”, là “Lệ Làng” trong Tổ Tôm Thế Kỷ 20. Đại diện HBL Tiểu Thương sẽ viết dần khỏi dài quá, các Mod biên soạn lại nhé.
    Rất mong sự góp ý, trao đổi của cả nhà.
    Trân trọng!
     
  2. BÀI 11: TỪ VÀ THÀNH NGỮ CHƠI TỔ TÔM THẾ KỶ 20

    TỪ VIẾT TẮT:

    -TT: Tổ Tôm.

    -ĐT: đấu thủ(tức người chơi Tổ Tôm).

    -TTSĐ: Tổ Tôm Sân Đình, chơi trên Internet.

    -LT TTSĐ: Lập Trình TTSĐ.

    -TT5: Tổ Tôm Bí Ngũ.

    1- TỔ TÔM: tên gọi cỗ bài lá hiện chỉ có người Việt Nam chơi.

    a-Tên Gọi: Từ Tổ Tôm các cụ suy đoán có thể là biến thể của từ Hán-Việt “tụ tam”. “Tụ Tam” là tổ hợp nhỏ nhất(gọi là 1 phu bài) gồm 3 quân bài.

    b-Nguồn gốc: Theo tiền nhân, Tổ Tôm được người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ chơi cách đây khoảng 300 năm.Từ hình vẽ có trang phục mang phong cách người Nhật và chữ viết là chữ Hán cách điệu, tiền nhân không xác định rõ nguồn gốc xuất xứ của trò chơi này. Tuy vậy, biết rằng lúc đó người Kinh chỉ thạo dùng chữ Hán và hiện nay còn mỗi người Việt chơi, nên có thể khẳng định Tổ Tôm có xuất xứ Việt Nam.Tài liệu của người Nhật, người Hoa cũng không xác nhận Tổ Tôm là trò chơi của họ.

    c-Kết luận: Tổ Tôm là trò chơi của người Việt và nay chỉ được người Việt Nam chơi. Do vậy nó là một tài sản “Văn Hóa Phi Vật Thể” của người Việt mà chúng ta phải gìn giữ, lưu truyền.


    2-BỘ BÀI TỔ TÔM: gồm có 120 lá bài. Cứ bốn lá bài giống hệt nhau, tạo ra một quân bài được phân biệt bởi số và chất.

    a-Có 9 hàng số 1,2,3,4,5,6,7,8,9(nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu). Thực ra có ba Quân Yêu Đỏ: Chi Chi, Ông Cụ, Thang Thang có thể coi là hàng số 10, dùng làm số đếm khi bắt cái đầu hội.

    b-Có 3 hàng chất Văn, Vạn, Sách.

    c- Ngoài ra có 3 quân đặc biệt, hay gọi là Yêu Đỏ: Chi Chi, Thang Thang, Ông Cụ.

    d-Bạn hãy mua một Bộ Bài Tổ Tôm để tìm hiểu, nhận biết 120 lá bài này.


    3-CHƠI TỔ TÔM: Bộ Bài Tổ Tôm dùng để chơi bốn trò: Tổ Tôm Bí Ngũ, Tổ Tôm Bí Tứ, Tài Bàn(chính là Tổ Tôm Bí Tam) và Chắn(chỉ dùng 100 quân, bớt đi 3 quân Yêu Đen: Nhất Văn, Nhất Vạn, Nhất Sách và 2 quân Yêu Đỏ: Thang Thang, Ông Cụ).Chơi Tổ Tôm cần có 1 bộ bài, đĩa đựng Nọc, 3 cái Chén Bất Thực.

    a-TỔ TÔM BÍ NGŨ: 120 lá bài chia đều thành 6 phần, mỗi phần 20 lá bài. Một phần để vào đĩa làm Nọc, bớt đi một lá bài cho người có cái.SÂN ĐÌNH đang làm phần mềm cho Tổ Tôm Bí Ngũ(Ngũ được hiểu là có 5 phần bài dành cho người chơi).Bài viết này cũng chỉ tập trung trao đổi về trò chơi Tổ Tôm Bí Ngũ, sau đây viết tắt là TT5. Bài Ù Bí Ngũ: điều kiện là tròn bài và ít nhất có 1 Lưng.

    b-TỔ TÔM BÍ TỨ(TT4): 120 lá bài chia đều thành 5 phần, mỗi phần 24 lá bài. Một phần để làm Nọc cũng bớt 1 lá bài cho người có cái. Bí Tứ được hiểu là có 4 phần bài dành cho người chơi và 1 phần Nọc. Bài Ù Bí Tứ: điều kiện là tròn bài và ít nhất có 2 Lưng.

    c-TÀI BÀN(có thể gọi là Tổ Tôm Bí Tam là TT3): 120 lá bài chia đều thành 4 phần, mỗi phần 30 lá bài. Một phần để làm Nọc cũng bớt 1 lá bài cho người có cái.Tài bàn Ù: điều kiện là tròn bài và ít nhất có 9 Lưng.

    -TT3 phân biệt với trò chơi Tổ Tôm khác ở chỗ: có 3 người chơi,Ù cần nhiều lưng hơn và đánh được cả phu đi.

    d-CHẮN:-Bớt đi 20 quân bài Yêu (Nhất Văn, Nhất Vạn, Nhất Sách, Thang Thang, Ông Cụ) còn 100 lá bài chia đều làm 5 phần, mỗi phần 20 lá bài. Mỗi phần chia bớt 1 lá để vào đĩa Nọc. Một phần để làm Nọc, bớt ra 1 lá cho người có cái. Vậy nhà cái có 20 lá bài, 3 nhà khác có 19 lá bài, Nọc có 23 lá bài. Chắn Ù: điều kiện là tròn bài và ít nhất có 6 chắn.

    -Một số vùng chơi cả Chắn Bí Ngũ(năm phần chơi, dùng cả 120 quân bài).

    d-ĐẤU THỦ: người chơi Tổ Tôm ta gọi là Đấu Thủ (sau đây viết tắt là ĐT). Nếu đủ chân, TT5 sẽ có 5 ĐT, Bí Tứ sẽ có 4 ĐT, Tài Bàn sẽ có 3 ĐT, Chắn sẽ có 4 ĐT.

    -Người xưa còn gọi ĐT bằng các tên khác: CHÂN ,TAY, CỬA, NHÀ...

    - Nhiều vùng gọi chung các ĐT tham gia ván bài là “LÀNG”, nên hay dùng từ “TRÌNH LÀNG”, “CHIẾU LÀNG”, “XIN LÀNG”, “LỆ LÀNG”, “HỎI LÀNG”...

    -P/S: hay TT SĐ goi các người chơi Tổ Tôm là TỔ THỦ cho oai.


    4-Ù:

    a-TT5 Ù khi bảo đảm điều kiện: TRÒN BÀI + CÓ LƯNG +QUÂN Ù hiện.

    b-Đấu Thủ trong chiếu TT(sau đây viết tắt là ĐT) Ù với 1 lá bài khi có ĐT khác đánh ra hoặc mở nọc.

    c-Có hai trường hợp đặc biệt là THIÊN Ù hoặc Ù với thiên khai khi động nọc.

    d-Ù là nước bài đặc biệt. Khi Ù người ta không hồi tố với các nước bài trước đó.


    5- TRÒN BÀI: như mọi trò chơi bài lá khác, người ta sắp xếp các lá bài thành các tổ hợp, trong TT gọi là Phu. Khi bài của ĐT không còn quân rác(mọi lá bài đều nằm trong phu) thì gọi là TRÒN BÀI.


    6-PHU BÀI: khi chơi Tổ Tôm, các ĐT sắp xếp lá bài khi ăn , khi đánh thành các PHU BÀI: có 4 loại Phu Bài.

    a-PHU BÍ: là tổ hợp ít nhất 3 lá bài khác chất, cùng số. Ví dụ: 3 văn + 3 vạn + 3 sách.

    -Theo lối chơi mới của Sân Đình, Phu Bí tối đa có tới 12 lá bài: 4 lá 3 văn + 4 lá 3 vạn + 4 lá 3 sách.

    b-PHU DỌC: là tổ hợp ít nhất ba lá bài cùng chất, có số liên tiếp nhau. Ví dụ: 3 văn + 4 văn + 5 văn.

    -Phu Dọc tối đa có tới 9 lá bài liên tiếp. Ví dụ: 1 văn...2,3,4,5,6,7,8,9 văn.

    c-PHU YÊU: bất kỳ quân Yêu nào, dù đứng một mình, cũng được coi là 1 Phu, không phải Quân Rác.

    -Sáu Quân Yêu: 1 văn, 1 vạn, 1 sách, chi chi, thang thang, ông cụ.

    d-PHU LƯNG: Tổ Tôm khi Ù ngoài điều kiện tròn bài, còn phải có Lưng. Có chín tổ hợp Phu là Lưng khi chơi Tổ Tôm:

    -Lưng Tôm: Tổ hợp 7 văn + 3 vạn + 3 sách.

    -Lưng Lèo: Tổ hợp chi chi + 9 vạn + 8 sách.

    -Lưng Sườn(từ xưa các cụ gọi là Bí Sườn): 8 văn + 2 vạn + 2 sách.

    - Lưng Yêu Đỏ 1: thang thang + 9 vạn + 9 sách(Lưng yêu Đỏ Đơn).

    -Lưng Yêu Đỏ 2: thang thang + ông cụ + 9 sách(Lưng Yêu Đỏ Kép).

    -Lưng Yêu Đen 1: 1 văn + 2 văn + 3 văn(Lưng Yêu Đen Đơn).

    -Lưng Yêu Đen 2: 9 Văn + 1 Vạn +1 Sách(Lưng Yêu Đen Kép).


    -Lưng Trùng Tam: Phỗng (ăn Phỗng được trong ván chơi) + Khàn: là Phu gồm 3 quân giống hệt nhau: như phỗng 3 văn, hoặc Khàn 3 văn Úp.

    -Lưng Trùng Tứ: Khàn Dậy(ăn được trong ván chơi) + Thiên Khai: là Phu gồm 4 quân giống hệt nhau như Khàn 3 văn dậy hoặc Thiên Khai 3 văn Úp.

    -P/S: khi chơi Tài Bàn, còn có các LƯNG GHÉP, LƯNG TÀI ta không đề cập ở đây.

    e-PHU TRÒN: thực ra chính là PHU BÀI hoàn chỉnh; một tổ hợp tối thiểu 3 quân bài “TỤ TAM TỬ ĐẮC THÀNH NHẤT PHU”.

    f-PHU TRÊN TAY: các PHU có trên tay kể cả Yêu, làng chỉ biết khi HẠ Ù. Khi cần thiết, ĐT có thể đánh xén quân bài trong Phu Trên Tay.

    g-PHU DƯỚI CHIẾU: các PHU ĐT trình với làng dưới chiếu, kể cả Yêu. Khàn Úp hay Thiên Khai Úp để dưới chiếu nhưng kín với làng, vẫn thuộc Phu TRên Tay. Đánh quân bài thuộc Phu Dưới Chiếu hoặc xếp bài BẤT THÀNH PHU dưới chiếu sẽ bị Báo.


    7-QUÂN BÀI: ta gọi Quân Bài thay cho LÁ BÀI, CÂY BÀI cho quen thuộc.

    a-QUÂN TRÔI: là Quân Trong Phu gồm có 3 loại

    - Quân Trôi trong Phu Trên Tay:quân có trong các tổ hợp Phu tròn trên tay. Có thể đánh xén Quân Trôi trong Phu Trên Tay vào trường hợp cần thiết.Phu Trên Tay là Phu có đầu tiên nên Quân Trôi của nó là Quân Trôi có trước, đầu tiên khi làng phân xử Quân đến Trước, Quân Đến Sau lúc ăn, đánh.

    -Quân Trôi trong Phu Dưới Chiếu:quân có trong các tổ hợp Phu tròn ăn dưới chiếu. Không được đánh Quân Trôi trong Phu Dưới Chiếu.

    -Quân Trôi trong Phu Ẩn: quân có trong các Phu Khàn, Thiên Khai chưa dậy, đang úp dưới chiếu.

    -Mọi quân Yêu đều là Quân Trôi.

    b-QUÂN RÁC: các Quân Bài chưa nằm trong Phu (tổ hợp đủ) đều là quân rác.

    c-QUÂN RẺ: quân bài được đánh giá cả làng đều khó ăn và còn.

    d-QUÂN ĐẮT: quân bài được đánh giá nhiều nhà khác dễ ăn, cước sắc.

    e-QUÂN Ù: quân bài người chơi Ù với nó.

    -Quân Ù từ mở Nọc.

    -Quân Ù từ người khác đánh ra.

    -Quân Ù từ Thiên Khai dậy khi Động Nọc.

    -Khi Thiên Ù, Quân Ù nhiều vùng ước định là Quân Bắt Cái.

    f-QUÂN NHÁI: cửa trên vừa có nó không ăn được, mở nọc lại hiện ra chính nó.

    g-QUÂN LÀNH BÀI: quân bài đánh ra, làng ít có khả năng Ù hay ăn, nhất là về cuối trận.

    h-QUÂN BẮT CÁI: là quân bài nhà có cái nhận được thêm khi Bắt Cái.Ở TT chiếu, do Nhà Bắt Cái tùy chọn 1 trong 2 quân thường theo qui tắc “Nhất Yêu Nhì Cửu”. Trong TTSĐ, Nhà Bắt Cái chỉ dùng 1 quân đưa vào Bài Cái, cho nên đó là Quân Bắt Cái luôn.


    i- QUÂN ĐẾN TRƯỚC:

    i1-Trường hợp ĐƠN GIẢN: quân giống hệt một quân đã đến trước không ăn, sau đến quên mất lại ăn. Ví dụ, bài lẻ 3 vạn, 3 sách; 3 văn vòng trước xuất hiện, đón Tôm không ăn, vòng sau quên lại ăn là Báo.

    i2-Trường hợp NÂNG CAO: ăn Quân đến sau có cùng chức năng với quân đến trước đã không ăn mà không có cơ sở lý giải, là Báo.

    -Ví dụ: vẫn bài trên, lẻ 3 vạn, 3 sách; vòng trước không ăn 3 văn, vòng sau lại ăn 7 văn là Báo.Nếu Hạ cả Bí Tôm xuống, lý giải 7 văn có sẵn trên tay thì được.

    i3-Trường hợp PHỨC TẠP: “Quân đến sau, Quân đến trước” không dễ thấy như 2 trường hợp 7.i1 và 7.i2, lại ẩn vào trong “Phu có trước, Phu có sau”.

    -Ví Dụ 1 : dưới chiếu ăn 4,5,6 sách; nếu phỗng 7 sách và đánh đi 8 sách là bị Báo, dù là “Ăn một đánh một”. Vì “PHu có trước” 6,7,8 sách chỉ cân đánh 7 sách là tròn bài lại bị bỏ đi để lập ra phu Phỗng 3 con 7 sách(là “Phu có Sau”) là phạm luật.Ở đây, con 8 sách trên tay là “Quân đến trước” vì nó nằm trong “Phu có trước” là 6,7,8 sách. Lệ Làng cả nước đang cho đánh thế này, là điều TTSĐ phải cân nhắc, lựa chọn.

    -Ví dụ 2: Có phỗng 2 văn,nằm trong phu 1,2,3 văn trên tay có sẵn. Phỗng 2 văn đánh đi 3 văn, lúc này chưa sao. Vòng sau 1 văn đến cửa trì, ăn và hạ 1 văn trên tay xuống vậy là Báo. Vì phu “1,2,3 văn” là “Phu có trước”.Trường hợp này, người đánh cao đành để treo tranh 1 văn trên tay không hạ. Đánh tiếp nếu Ù rồi Hạ. Làng không tinh sẽ bắt “Treo tranh 1 văn”, cho Ù Lành Làng”. Làng tinh sẽ bắt Báo lại nước bài phỗng 2 văn. Mình ủng hộ cho Ù Lành Làng vì nguyên tắc khi Ù, không hồi tố các nước bài trước.

    k-QUÂN ĐẾN SAU: theo khái niệm Quân Đến Trước, để tính ra thứ tự Quân Đến Sau. Ăn Quân Đến Sau mà đánh đi Quân Đến Trước là bị báo.
    -Quân đến sau bị bắt báo là quân giống hệt, quân cùng chức năng (nếu trong phu dọc không tính từ quân thứ tư).

    l-QUÂN KIÊNG:

    -Quân Kiêng đầu hội chơi, người ta kiêng đánh những Quân Bài 6 văn, 9 văn. Nhiều vùng Kiêng kỹ, cả 4 sách, 7 sách.

    -Quân Kiêng Cước Sắc: một số nơi người ta Kiêng Ù bài Kính Tứ Cố (bài đen tuyền chỉ có 4 Quân Ông Cụ), nhất là khi còn Tứ Thân Phụ Mẫu.

    -Quân Kiêng vừa Ù: quân vừa Ù cũng ít khi Nhà Cái đánh đi đầu tiên.

    m-QUÂN PHỖNG: Quân làng đánh ra hay Mở Nọc mà ĐT phỗng được. Lưu ý các Quân PHỗng Ù.

    n-QUÂN HẾT BỐN: quân bài đã hiện trên mặt chiếu đủ cả 4 lá. Không còn chờ để ăn hay ù với nó nữa.

    0-QUÂN CẠN: Quân bài được suy đoán rất ít khả năng còn hiện lên trên chiếu.

    p-QUÂN ĐEN, QUÂN ĐỎ: 120 quân bài Tổ Tôm có 2 loại màu ĐEN và ĐỎ.

    -QUÂN ĐEN có 92 lá bài gồm có 3 bộ Yêu Đen(Nhất Văn, Nhất Vạn, Nhất Sách);Tất cả các bộ quân từ Nhị đến Thất; Bộ Bát có Bát Văn; Bộ Cửu có Cửu Văn.

    -QUÂN ĐỎ có 28 lá bài gồm có 7 Bộ Quân: 3 bộ Yêu Đỏ (Chi Chi, Thang Thang, Ông Cụ);2 Bộ Bát là Bát Vạn, Bát Sách; 2 Bộ Cửu là Cửu Vạn, Cửu Sách.
    q-QUÂN LỘ: quân bài hiện dưới chiếu tất cả làng đều nhìn rõ. Đôi khi gọi là QUÂN HIỆN.




    8 – NỌC: phần bài Người Bắt Cái để ở giữa chiếu (trên đĩa Nọc) để người chơi mở dần.

    a-BÀI NỌC: tất cả lá bài trong NỌC:-P phần bài chọn Bắt Cái bao giờ cũng bớt 1 lá bài cho Người Có Cái.

    -Chơi TT5, Nọc có 19 lá bài.

    b-MỞ NỌC như BỐC NỌC: Nọc được các ĐT mở liên tục cho đến khi có người Ù. Khi Nọc chỉ còn 5 lá bài, thì không mở nữa, ván bài Hòa.

    c-ĐẾM NỌC, KIỂM NỌC: ván bài khi hòa,ĐT đếm số lá bài trong Nọc có đúng còn 5 không. Thực ra, tổng số quân rác tại các cửa là 15 là ván bài Hòa.

    d-ĐỐC NỌC: Quân bài mở cuối cùng của Nọc. Trong TT SĐ là Quân Bài có sô thứ tự là 6. Tương tự, Quân Bài số 5 các ĐT hay gọi là Đội Nọc.

    e-CHÁY NỌC: bốc hết Nọc mà ván bài vẫn Hòa. RÓC NỌC có ý nghĩa tương tự.

    f-KHÓA NỌC: Tổ Tôm Chiếu, 1 trong 2 quân dùng Bắt Cái, để ngửa trên cùng Bài Nọc, là quân Khóa Nọc, để chống gian lận. Trong Lập Trình TTSĐ không có quân lộ này vì chỉ Bắt Cái bằng 1 lá bài và Nọc mở tự động.

    g-MỞ CAO, CAO TAY BỐC: chỉ việc ĐT chọn lựa Mở Nọc, thay vì ăn quân nhà trên đánh xuống hoặc quân mở ở cửa nhà trên. Khi chơi Tổ Tôm, do nhiều quân bài hơn, nước bài phức tạp hơn, Ù được cả quân ĐT đánh ra, nên việc Mở Cao, Cao Tay Bốc càng quan trọng.

    -Thành ngữ hài hước của dân gian “Khi đi vợ dặn Cao Tay Bốc” là từ ý nghĩa này.

    h-ĐẤM YÊU: khi mở Nọc cửa trì được con Yêu. Bài lúc đã chờ ù, đôi khi Đấm Yêu làm vỡ chờ vì không còn quân đánh xén.


    9-CÁI: Quyền hạn khởi đầu ván bài

    a-NHÀ CÁI: chỉ Đấu Thủ đánh ra quân bài đầu tiên khi vào ván.

    -Nhà Cái được chọn lựa đầu hội do Bắt Cái chỉ định.

    -Ván chơi Hòa, nhà có KÊ (ĐẦU KÊ) sẽ có cái tiếp theo. Quân bài cuối cùng của Nọc mở để hòa, ở cửa trì nhà nào, nhà đó là ĐẦU KÊ, có cái ván tiếp theo. Trong TTSĐ là khi mở quân số 6.

    -Khi cả làng cùng bỏ bài, sẽ BẮT CÁI LÀNG, như Bắt Cái đầu hội.

    -Bắt Cái Đầu Hội không chọn Nhà Cái theo thành ngữ “Nhất Nhị Tại Vị” như nhiều nơi hiểu nhầm. Vận dụng như vây, trong 5 đấu thủ người số 5 sẽ không được có cái. Để cho vị trí số 5 không bị thiệt thòi khi bắt cái làng đầu hội, nhiều vùng coi 3 Quân Yêu Đỏ Chi Chi, Thang Thang, Ông Cụ là số 10.TTSĐ lưu ý vận dụng điều này, dù chỉ bắt cái 1 quân.

    b-NHÀ BẮT CÁI: người chọn Bài Nọc, lấy quân để tạo ra Nhà Cái và Bài Cái Đầu Hội.

    -Khởi đầu hội, Nhà Bắt Cái thường là người cao tuổi nhất hay chủ nhà, cũng công bố luật lệ chơi.Trong TTSĐ, là chủ bàn.

    -Các ván sau, Nhà Bắt Cái là người ván trước có cái. Sau ván Ù Thông, Tổ Tôm chiếu bắt cái theo vòng ngược chiều kim đồng hồ, tính từ người vừa Bắt Cái. TTSĐ để ĐT dưới nhà Ù Bắt Cái. Ù Tam Khôi trở đi, Bắt Cái theo vòng như Tổ Tôm Chiếu.

    c-BÀI CÁI: ở Tổ Tôm Chiếu, Nhà Bắt Cái chọn Bài Nọc, để lên đĩa, lấy 1 quân bất kỳ ngửa lên. Chọn thêm 1 lá từ phần bài bất kỳ, cộng tổng 2 số, lấy phần dư của phép chia cho 5, đếm ngược chiều kim đồng hồ, chọn ra Bài Cái. Quân thêm cho Bài Cái là 1 trong 2 Quân Lộ


    -Bài Cái có thể chọn vận dụng thành ngữ “Nhất Nhị Tại Vị” vì không gây nhiều ảnh hưởng tới ván chơi.

    -Trong LT TTSĐ, chỉ bắt cái từ 1 Quân Bài Nọc, đếm luôn ngược chiều Kim đồng hồ, từ vị trí chọn Bài Nọc, để xác định ra Bài Cái.


    10-CỬA:

    a-CỬA là vị trí giữ hai Đấu Thủ. TT Bí Ngũ, đủ người sẽ có 5 cửa.

    b-CỬA TRÌ: Cửa bên tay phải của ĐT, không nên gọi là “Cửa Của Mình”, các cụ cười. Người chơi còn hay dùng lẫn Cửa Trì với Cửa Dưới.

    c-CỬA TRÊN; Cửa bên tay trái của người chơi, là Cửa Trì của Nhà Trên. Liền với CỬA TRÊN là CỬA DƯỚI.

    d-CỬA CHÉO: các cửa không liền với ĐT.

    e-CỬA Ù: các cửa tính theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ, ưu tiên người ở CỬA TRƯỚC, CỬA TRÊN.

    -Phỗng, Dậy Khàn, Dậy Thiên Khai là Quân Ù vẫn phải tính theo thứ tự Cửa Ù, không được ưu tiên như CHÍU khi chơi CHẮN. CỬA SAU thua CỬA TRƯỚC.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 26/3/21
    Mod01 thích điều này.
  3. BÀI 11: TỪ NGỮ VÀ THÀNH NGỮ CHƠI TỔ TÔM THẾ KỶ 20(Phần 2)


    11-XẾP BÀI:

    a-XẾP BÀI Ở TỔ TÔM CHIẾU:

    -Các ĐT nhận phần bài của mình và tiến hành xếp.

    -Xếp 1 lớp: Quân Yêu dồn bên trái đầu tiên, rồi xếp các Phu theo thứ tự:-Phu có Yêu, Phu Bí trước, Phu Dọc sau; Từ nhiều đến ít, từ nhỏ đến lớn; dập dòm cũng theo qui tắc đó; cuối cùng là Quân Rác. Nếu Có Cái Đầu Hội thì lưu ý Quân Kiêng.

    -Xếp 2 lớp: các Quân Yêu để hàng dưới, phía trong.

    -Xếp xong đếm quân (TTSĐ không cần đếm vì bao giờ cũng đủ), Xem Lưng, Kiểm phỗng, Khàn, Thiên Khai.

    b-XẾP BÀI TRONG TT SĐ:

    - Khi NHÀ CÁI chia bài xong, bạn Kích XẾP BÀI, kiểm tra nhanh bài trên tay bên trái có KHÀN, THIÊN KHAI thì Úp. 3 ô LỆNH về Khàn, Thiên Khai phía phải, trên cao màn hình.

    -Kiểm tra nhanh, xử lý Khàn, Thiên Khai (nếu có) rồi Kích chuột XẾP XONG, để làng không chờ, bức xúc.

    -XẾP XONG sẽ tự động đưa các lá bài vào phu. Lập Trình Tổ Tôm Sân Đình (LT TTSĐ) chưa ưu tiên PHU BÍ (phu ngang) như trong Tổ Tôm Chiếu, nhưng cũng đã xếp tạm ổn.

    -Xếp bài sau chia bài trong Game không sợ “Lát Bài”, “Nghía Bài” nên ĐT tìm cách xếp thuận lợi tối đa cho cách chơi của bản thân. Bài liên tục được kiểm tra, xếp lại theo hướng có lợi hơn, theo diễn biến ván chơi.

    c-Ý KIẾN RIÊNG: Đặc biệt, hai phu dọc nối dài trong LT TTSĐ chưa xếp liền, làm ĐT khó tìm ra các phương án có lợi cho nước bài, cần xếp lại. Đề nghị MOD Lập Trình điều chỉnh phần xếp bài một chút.


    12- ĂN QUÂN: là ăn 1 quân tạo thành phu của mình (hoặc ăn thêm vào Phu có sẵn) dù là người trên đánh hay mở nọc, phỗng, dậy Khàn, dậy Thiên Khai. Ù và “Thiên Khai Ăn Khàn Trình Phu” là trường hợp “Ăn Quân đặc biệt”.

    a-ĂN YÊU: Quân Yêu ăn chỉ cần để nó thôi, nếu có cả trên tay thì phải hạ xuống khỏi Treo Tranh. Chỉ Ăn Yêu được khi mở cửa trì, phỗng, dậy Khàn, có Thiên Khai Yêu,Ù.

    b-ĂN CÀI KHÀN: Ăn 1 quân tạo thành phu phải tổ hợp với Khàn Úp dưới chiếu. Quân ăn sẽ để lộ, còn quân trên tay hạ xuống theo và Khàn thì vẫn úp kín.

    c-ĂN LỘ KHÀN:Ăn 1 quân tạo tạo thành phu phải tổ hợp với Khàn Úp dưới chiếu nhưng lại làm lộ ra tên Khàn đó. Giống nhiều vùng, TTSĐ cho Ăn Lộ Khàn, như vậy là hợp lý.

    d-ĂN CHẦY: ăn quân đến sau, ăn quân đánh đi rồi...tóm lại là ăn báo thì trong TT5 gọi là ĂN CHẦY. Thành ngữ đủ là “Ăn Chầy, Phỗng Bữa”.

    e-ĂN MÒN: ăn thêm vào phu có sẵn, đánh ra quân mới, hại cho bài làng trong TT5 gọi là ĂN MÒN. Thành ngữ đủ là “Ăn Mòn, Đánh Chéo”.

    f-ĂN MỘT ĐÁNH MỘT: ăn phu để trôi 1 quân có sẵn trên tay, đánh đi 1 quân cũng có sẵn trên tay, vào phu khác, phải giải thích để làng không Bắt Báo.

    -Trường hợp này hết sức lưu ý qui định “Quân Có Trước”, nhất là dạng “Quân Có Trước” nằm trong “PHu Có Trước” hay nằm trong “PHu Trên Tay”.

    -LỆ LÀNG qui định điều này có khác nhau.Ví dụ: bài ăn dưới chiếu 345 văn, trên tay có đôi 6 văn, 1 quân 7 văn. Thấy phỗng 6 văn không phỗng, sau hạ 6,7 văn nối vào và đánh đi 1 quân 6 văn. Với nguyên tắc 7 văn là Quân Có Trước, vậy không phỗng mà đánh đi 6 văn là đúng.

    g-ĂN MỘT ĐÁNH HAI: ăn phu trôi 1 quân trên tayo:-), lại đánh đi 2 quân liên quan đến quân trên tay o:-) đó. Trường hợp này bị Bắt Báo. Ví dụ: bài có 3,4,5 văn và 3 sách, ăn của làng 3 vạn hạ Bí Tam 3 văn, 3 vạn, 3 sách rồi đánh 4,5 văn đi.

    h- ĂN HAI ĐÁNH MỘT: ăn 2 Quân rác trên tay, đánh đi 1 Quân đã nằm trong Phu Dưới Chiếu, phải giải thích với làng.

    -Ví dụ: bài có 2 văn, 4, 5 văn với 3 vạn, 3 sách. Đến 3 văn, hạ bài ăn 3,4,5 văn dưới chiếu. Mở Nọc được 6 văn lại ăn, hạ vào 4,5 văn; hạ thêm 3 sách, 3 vạn với 3 văn dưới chiếu thành Bí Tam, đánh đi 2 văn. LỆ LÀNG nhiều nơi cũng không cho đánh 2 văn, nên phải lưu ý.Với nguyên tắc ưu tiên cao nhất là tròn bài lại “Ăn Hai Đánh Một”, việc được đánh 2 văn là đúng, nhưng nhớ hạ Bí Tam.

    i-ĂN HAI ĐÁNH HAI: là ăn 1 quân A của làng (hoặc có sẵn) với 2 quân có sẵn trên tay, rồi đánh đi 2 quân cũng tạo thành được phu với quân A đó. Đây là biến thể của Ăn Một Đánh Một.

    -Ví dụ: có 4,5 văn và 3 vạn, 3 sách. Ăn được 3 văn(hoặc trên tay có sẵn), muốn ăn phu dọc hay phu bí thì tùy, được đánh đi 2 quân còn lại.

    k-ĂN BA ĐÁNH HAI: là biến thể của trường hợp Ăn Hai Đánh Một khi ăn quân A thành phu dọc hoặc phu bí có sẵn 3 quân trên tay, rồi đánh đi 2 quân cũng thành phu với quân A đó và phải giải thích với làng.

    -Ví dụ: bài có 2,4,5 văn với 3 vạn, 3 sách: ăn của làng 1 quân 3 văn rồi đánh đi 3 vạn, 3 sách. Hoặc bài có 4,5 văn với 2 quân 3 vạn, 1 quân 3 sách thì ăn 3 văn thành Bí Tam rồi đánh đi 4,5 văn.

    l-ĂN NĂM BINH: là Ăn Phu Bí mà trên tay hạ xuống có 2 quân trùng với quân ăn của làng. Ví dụ: bài có 3 văn, 3 văn, 3 vạn, 3 sách ăn thêm của làng 3 văn mà không phỗng, hạ cả Phu có 5 quân bài. Tổ Tôm Chiếu hạ 2 quân 3 văn đầu tiên với 1 quân 3 văn cuối cùng của Phu.

    m-ĂN LỤC BINH: khi Bất Thực Khàn, nhà trên đánh xuống hoặc Mở Nọc đúng vào quân trong Khàn Bất Thực mà không Phỗng Tái Kiến, thì mình ăn Phu Bí với quân đó, phu hạ sẽ gồm 6 quân bài là Ăn Lục Binh.

    -Ví Dụ: có Khàn 3 văn, trên tay có sẵn 3 vạn, 3 sách; 2 quân 4 văn, 2 quân 5 văn. Mở Nọc cửa trì được 3 văn, hạ Bí Tam: 4 quân 3 văn với 3 vạn, 3 sách.Tổ Tôm chiếu hạ 2 quân 3 văn đầu tiên với 2 quân 3 văn cuối cùng của phu.

    n-ĂN CẢ: khi Bất Thực Khàn hoặc Bất Thực Thiên khai mà không đánh đi quân bài nào trong Khàn hoặc Thiên Khai đó, lúc Ù phải HÔ Ù: Ăn Cả TRả Chén.

    o- ĂN LỖI, ĂN SAI: là các trường hợp ăn quân mà bị bắt báo khi đang đánh hoặc không được điểm khi Ù.

    p-ĂN BẤT THÀNH PHU: ăn quân của làng rồi đánh 1 quân đi mà dưới chiếu có quân rác, gọi là Ăn Bất Thành Phu.

    -Lưu ý: trong TTSĐ, có thể bị bắt lỗi này dù không mắc nhưng do không xếp lại các Phu Tròn trên chiếu.

    q-ĂN CHẶN: ăn 1 quân cửa trì không có thêm tác dụng với bài mình rồi đánh đi 1 quân khác nhà dưới khó ăn. PHỖNG CHẶN cũng tương tự vậy.

    r-ĂN THÀNH, ĂN CHẠM CHỜ, ĂN CHẠM THÀNH, ĂN THẬP THÀNH: là ăn 1 quân rồi đánh đi 1 quân để bài Thành (hoặc Thập Thành), Chạm Chờ, Chạm Thành, Thập Thành. Ăn Vào Thành như Ăn Thành.

    -Lưu ý: Khi Nọc chỉ còn 1 quân mở là Hòa, ĐT mà ăn là phải bảo đảm Ăn Thành, nếu không đánh đi đúng quân làng Ù là phải Đền Làng ván bài đó.LỆ LÀNG nhiều nơi “Bắt Chặt”, “Một Ly Ông Cụ”, làng Ù vào quân khác cũng phải đền.Với TTSĐ chính là khi Nọc chỉ còn Quân Số 6, trên đĩa.

    -LT TTSĐ hiện nay chưa làm được chức năng này, sẽ bổ sung về sau.

    s-ĂN KÌM: ăn quân ở cửa trì dù không có tác dụng với việc Ù rồi Đánh Lành nhằm ngăn cản nhà dưới lợi bài. Từ này nằm trong thành ngữ “Ăn Kìm Đánh Đì”.

    t-ĂN DỌC, ĂN BÍ: là ăn 1 quân vào Phu Dọc hoặc Phu Bí.

    u-ĂN KHOAN: là nhắc nhở ĐT khi ăn quân thì chậm thôi phòng có người Phỗng hay Dậy Khàn đúng quân đó sẽ lộ bài. Ăn Khoan nằm trong thành ngữ “Ăn Khoan, Phỗng Nhanh”.

    v-KHÔNG ĂN QUÂN NỌ LẠI ĂN QUÂN KIA, ĂN NỌ ĐÁNH KIA: chỉ các trường hợp ăn sai, bị Báo, như “không ăn 3 văn lại ăn 7 văn”, “ăn 4 vạn đánh đi 7 vạn”....Không vận dụng cho từ quân thứ tư của phu dọc(cùng chất, khác số) hoặc quân khác chất cùng hàng trong phu bí.

    x-XOAY BÀI: Ăn Quân, Đánh Quân rồi tạo ra phu mới từ các phu có sẵn mục đích để bài tốt hơn.

    y-ĂN QUÂN TRONG TTSĐ: Kích chuột vào quân ăn, quân trên tay vào phu, rồi Kích ĂN. Nếu cần điều chỉnh Phu Ăn, thì dùng chuột và nút Hạ Lại Bài.Học để biết sử dụng được nút “Chọn Từng Quân”, “Chọn Cả Phu”.

    -Lưu ý ĂN QUÂN tạo thành Phu có số lá bài tối thiểu Hạ lộ trên mặt chiếu là rất quan trọng, tránh bị báo, lộ bài, sau này đánh xén, đảo phu.Hạ quân ăn Phu đúng là thước đo quan trọng trình độ của Người Chơi.Chỗ mình, hạ Phu ăn thừa 1 quân là vào gà trong 1 Dịch, thừa 5 quân là vào 5 Dịch, bằng thua ván Lèo rồi. Ăn quân lợi bài, kín bài thể hiện ĐT ĂN CAO hay ĂN THẤP.

    z-ĂN ĐÓN: là các trường hợp Bất Thực chưa có phu dọc hoặc từ phu đã có ăn thêm quân tạo ra dập dòm mới(cạ mới) để ĐÓN ĂN quân sau tổ hợp thành phu. Nhiều lúc ĂN ĐÓN còn tạo ra Cạ Mới để Chờ Ù. Thực ra ĂN ĐÓN chính là thủ pháp ĐÓN ĂN.


    13-ĐÁNH QUÂN: ĐT bỏ đi 1 quân bài trên tay để làng có thể ăn hoặc Ù. Không bao giờ được đánh quân Yêu ở bài trên tay.

    a- ĐÁNH ĐÌ: đánh quân bài để làng (mà chủ yếu nhà dưới) không ăn không ù được.Có ĐÌ CHÍNH CHỮ và ĐÌ KHÔNG CHÍNH CHỮ.

    b- ĐÁNH LÀNH, LÀNH BÀI: đánh quân bài làng khó Ù, khó tạo ra cước sắc, khó ăn.

    c- ĐÁNH CHÉO: Ăn Mòn rồi đánh ra quân bài có nhiều liên quan. Từ này nằm trong thành ngữ “Ăn Mòn Đánh Chéo”.

    d- ĐÁNH CAO, ĐÁNH THẤP, CAO TAY:nói về trình độ của người chơi.

    -Thực ra, bài lá yếu tố đỏ đen chiếm tới non nửa kết quả.Nhưng một canh bài đủ dài, thí dụ 3 giờ đồng hồ, kết quả phản ánh được trình độ người chơi. Đánh bị báo, đánh cho nhà dưới Ù nhiều, hay đánh quân bài về cuối làng Ù, phỗng nhiều Ù ít... là thể hiện Đánh Thấp.Ở vòng bài thứ ba, tức là lúc Nọc còn khoảng 10 quân, người Đánh Cao đã xác định rõ hướng bài Đánh Hòa.

    e-ĐÁNH HÒA: ăn kìm, đánh đì, mở Nọc tối đa để bài Hòa. Khi Nọc còn ít quân (còn khoảng 5 quân mở) hoặc lúc bài xấu không bỏ được, nhiều người đã chủ trương Đánh Hòa.

    f-ĐÁNH BẨN: là mô tả các trường hợp Đánh Láo, Đánh Bịp, Thông Lưng, Bài Thửa, Ăn Non, Chọn chỗ....Những tay chơi tao nhã thì không dùng đến từ này, chứ chưa nói đến việc không bao giờ Đánh Bẩn.

    g-ĐÁNH BÁO: đánh ra 1 quân bài trên tay hay ăn 1 quân của làng(ĂN BÁO) mắc lỗi nặng bị Bắt Báo.

    h-ĐÁNH PHẢI BÀI: là đánh quân, ăn quân hợp lý, bình thường.

    i-ĐÁNH MỘT LY ÔNG CỤ: chơi bài với qui định chặt chẽ, nghiêm ngặt.

    k- CHẠM YÊU ĐÁNH GÌ: là việc ĐT luôn chọn sẵn 1 quân bài để khi mở Nọc cửa trì được 1 quân Yêu sẵn sàng đánh ngay đi không cần nghĩ nhiều.

    l-ĐÁNH PHU DƯỚI CHIẾU: chính xác là đánh quân bài trên tay nằm trong phu dưới chiếu sẽ bị BẮT BÁO


    14-Ù: ĐT BÁO Ù với làng khi có 1 quân bài hiện ra (do người khác đánh, mở Nọc, dậy Thiên Khai) mà bài tròn, có lưng. Ù = BÀI TRÒN + CÓ LƯNG + QUÂN Ù.

    a-THIÊN Ù: ĐT có cái, bài Thập Thành luôn. Quân Ù được coi là Quân Bắt Cái.

    -TTSĐ chưa qui định các cước sắc kèm theo Quân Ù trong Thiên Ù.Với xu hướng để TT ù to, nâng cao, nên cho hưởng các cước sắc kèm theo Quân Bắt Cái trong Thiên Ù như Bạch Thủ, Xuyên, Chi Nẩy....TT Chiếu thì chưa có khái niệm này.

    Tất nhiên có thưởng sẽ có phạt, như vậy Thiên Ù mà Quân Bắt Cái (chính là Quân Ù)khi cần phải hô các điều kiện kèm theo như “Ù Không Phỗng, Tiền Ù Hậu Dậy, Tiền Dậy Hậu Ù...” mà quên thì cũng bị Ù Lành Làng.

    b-Ù LÀNH LÀNG: Ù mà ĐT mắc lỗi không được điểm như lỗi Treo Tranh; lỗi xếp quân dưới chiếu như Trái Vỉ(có nơi gọi là Trái Bỉ), Kẹp Cổ; lỗi Khê Khàn hoặc Thiên Khai, Treo Khàn hoặc Treo Thiên Khai;Lỗi HÔ Ù sai với làng diễn biến về Phỗng, Khàn, Thiên Khai theo qui định; quên HÔ Ù “Đánh Đi Ù Lại”, “Yêu Hoàn Yêu”, “Bí Hoàn Bí”, “Thấy Không Phỗng”...

    -Một số vùng gọi Ù Lành Làng là Ù “Đeo Kính”, Ù “Phong Trào”(có hoa không quả)...

    c-Ù BÁO: Ù mà làng phát hiện mắc các lỗi nặng và phải đền làng, cũng còn gọi là Ù LÁO, Ù XỌE.

    d-Ù CHÈO ĐÒ: là Ù Báo, không được đền làng ngay, mà phạt trả lại bằng ván Ù sau.

    -TTSĐ chưa có mục này. Do là trò chơi trên Internet, mọi lỗi nặng đều bị phạt điểm ngay để trả luôn cho các ĐT khác.

    e-Ù TRẢ ĐÒ: Ù trả nợ cho ván Ù CHÈO ĐÒ.

    -TTSĐ không có mục này.

    f-Ù THÔNG: Ù tiếp theo ván Ù trước đó. Có Ù Thông đến nhiều ván, mà từ ván Ù thứ ba gọi làTam Khôi, ván thứ tư là Tứ Khôi ...đến N Khôi..

    g-Ù LẤY ĐƯỢC: Ù nhiều quá làng ghét hoặc Ù mắc lỗi.

    h-Ù ĐÈ: khi Ù thì cướp quyền Ù của nhà khác ở cửa sau (cửa dưới).Có Ù ĐÈ thì có lúc BỊ ĐÈ.

    i-Ù NĂM BINH: phải hô Ù Năm Binh khi Quân Ù là quân A; lại có phỗng A nhưng không phỗng được vì A nằm trong ít nhất 2 phu khác nhau (còn gọi là Ù không phỗng). Cùng tính chất với Ăn Năm Binh.

    k-Ù LỤC BINH: tính chất như Ù Năm Binh và Ăn Lục Binh.

    l-Ù VỌNG: là trường hợp Ù với Thiên Khai của nhà khác dậy khi động Nọc. Ù Vọng không được tính cước sắc.

    -TTSĐ nên cho Ù Vọng cước bằng Lèo.

    -Trong TTSĐ: Thiên Khai tự động dậy khi mở Nọc cây đầu tiên. ĐT nào chờ đúng vào quân bài trong Thiên Khai đó, dù là dạng Phu nào hoặc đã Thập Thành thì được Ù.

    m-Ù KHÔNG PHỖNG: Ù với quân bài A, mà trên tay có phỗng A nhưng chia vào ít nhất 2 phu nên Phỗng bài không tròn, vậy phải hô Ù Không Phỗng.

    -Bao quát cho Ù Năm Binh, Ù Lục Binh đều xướng Ù không Phỗng để tránh lỗi được.

    -TTSĐ có mục HÔ Ù KHÔNG PHỖNG, không sử dụng mục HÔ Ù Năm Binh, Ù Lục Binh là dễ hơn cho các ĐT.

    n- BỎ Ù: không Ù khi đang chờ mà Quân Ù hiện trên chiếu.

    -Trong TT Chiếu, nếu Bỏ Ù, sau đó lại Ù được thì được phép Ù Lành Làng.

    -TTSĐ hiện nay cũng cho phép Ù Lành Làng, nhưng khi thi đấu giải , việc này sẽ ảnh hưởng đến thứ tự các ĐT trong bàn chơi nên cần xem xét. Tương tự trường hợp Bỏ Ù trong thi đấu Giải Chắn các ván cuối cùng.

    o-XƯỚNG Ù: thông báo với làng mình đã Ù và có cước sắc thế nào, có điều kiện gì khác Ù thông thường. (thực ra điều kiện Ù đặc biệt được gọi là HÔ Ù).

    -XƯỚNG Ù rất quan trọng, có thể mắc lỗi để bị thiệt điểm (nếu XƯỚNG Ù thiếu cước), có thể Ù Lành Làng(nếu HÔ Ù thiếu điều kiện theo qui định), có thể đền làng (nếu XƯỚNG Ù thừa cước thì “XƯỚNG SAO ĐỀN VẬY”).

    -Thực ra XƯỚNG Ù có ba phần: BÁO Ù + HÔ Ù + XƯỚNG Ù.

    p-TIẾNG Ù: nghĩa là VÁN Ù hoặc Quân Ù. Ví dụ: nói “Tiếng Ù Lèo” nghĩa là ván đó nếu Ù sẽ có Lèo. Nói chờ “Một Tiếng Bát Sách”: chờ Quân Ù là Bát Sách.

    q-CƯỚC SẮC Ù: Ù Suông được coi là không có CƯỚC SẮC. Mọi dạng ù khác(trừ Báo hay Ù Lành Làng) đều có Cước Sắc như Thông, Tam Tứ Ngũ...Khôi, Tôm, Lèo, Bạch Thủ, Xuyên, Tứ Trụ (Kính Cụ, Thập Điều, Bạch Định,Chi Nẩy), Kính Tứ Cố, Thiên Ù, Ù Vọng.

    r-BÁO Ù: khi Quân Ù hiện lên dưới chiếu, ĐT BÁO Ù. BÁO Ù hay bị lẫn với XƯỚNG Ù, HÔ Ù.

    -TT Chiếu, khi Báo Ù nhiều người thận trọng còn hô NHỜ hoặc Phỗng để có thời gian kiểm tra lại rồi mới Báo Ù.

    -LT TTSĐ: Báo Ù thì ĐT nhấp nút Ù. Lưu ý Quân Ù rơi vào Phỗng (trừ trường hợp Ù Không Phỗng) thì phải Phỗng trước; rơi vào Khàn (trừ trường hợp Tiền Ù Hậu Dậy) thì phải Dậy trước, nếu không sẽ Ù Lành Làng.

    s-HÔ Ù: Sau khi Báo Ù, hạ xong các phu, xử lý Dậy Khàn Úp, ĐT HÔ Ù, nêu các điều kiện Ù ở trường hợp phải nêu. Nếu không có các điều kiện phải HÔ, thì XƯỚNG CƯỚC luôn, trường hợp này HÔ Ù ẩn luôn trong XƯỚNG Ù.

    t-Ù VỚI PHỖNG A:

    -Ù CÓ PHỖNG: trường hợp cần Phỗng để có lưng, Quân Ù A (là Quân Phỗng Ù) hiện lên, ĐT phải hô Phỗng. Có phu Phỗng A hiện lên mặt chiếu, rồi mới BÁO Ù.Đây cũng là một trường hợp có Cước Ù BẠCH THỦ.

    -Ù KHÔNG PHỖNG: nếu Quân Ù A lại đi vào hai phu, ba phu khác nhau thì không được Phỗng. ĐT Báo Ù ngay, hạ hết phu dưới chiếu rồi HÔ Ù, nhớ Hô Ù KHÔNG PHỖNG nếu quên là Ù Lành Làng.

    -Lưu ý: LT TTSĐ bắt buộc Phỗng A trước rồi mới Báo Ù khi bài không vướng vào mục Ù Không Phỗng, kể cả có Lưng rồi. ĐT nếu không Phỗng A trước mà Báo Ù ngay, cũng bị Ù Lành Làng.

    u-Ù VỚI KHÀN A:

    -Với Khàn A Úp, Quân Ù không phải A, thì Báo Ù, hạ hết phu trên tay, Dậy Khàn rồi Hô Ù, Xướng Ù.

    -Với Khàn A Úp, Quân Ù lại là quân A, thì vận dụng theo “Tiền Ù Hậu Dậy” hoặc “Tiền Dậy Hậu Ù” ở Điều 17.g, Điều 17.h.

    -Khàn A Úp khi ăn Cài Khàn, ăn Lộ Khàn cũng vận dụng như trên.

    -Khàn A khi Bất Thực thì vận dụng Điều 17.a, lưu ý với Phỗng Tái Kiến(Phỗng Khi Thấy) hoặc Kiến Bất Tái(Thấy Không Phỗng). Từng bước Báo Ù, Hô Ù, Xướng Ù, Phỗng Ù (nếu có) phải thực hiện đúng, nếu không sẽ Ù Lành Làng.

    -Lưu Ý: khi bị BẤT THỰC TRÙNG TRỤC(khàn A không tạo ra phu dọc, phu bí nào, hoặc còn quânA là Quân Rác chơ lơ khi Ù) đừng Báo Ù, nếu không sẽ Bị Bắt Báo. Hiện LT TTSĐ chưa Bắt Báo mục này, nhưng chắc sẽ sửa đổi.

    v-Ù VỚI THIÊN KHAI A:

    -Khi Thiên Khai A của làng: bài của ĐT chờ Ù đúng quân A(hoặc Bài Thành ù được với A), thì Động Nọc Dậy Thiên Khai, ĐT Báo Ù ngay. Lấy 1 quân của Thiên Khai A về bài mình, tạo phu xong, hạ hết bài, Hô Ù, Xướng Ù tiếp.

    -Khi Thiên Khai A của bài mình, làng đánh ra Quân Ù, chưa Động Nọc: ĐT Báo Ù, hạ phu dưới chiếu, Dậy Thiên Khai sau cùng.

    -Khi Thiên Khai A của bài mình, mở Nọc quân đầu tiên là Quân Ù(Động Nọc): ĐT Báo Ù, hạ phu với Quân Ù xong, Dậy Thiên Khai, hạ hết phu trên tay, rồi Hô Ù, Xướng Ù tiếp.

    -Khi Thiên Khai A của bài mình lại cùng quân rác B trên tay, kết hợp thành CẠ CHỜ Ù chưa Động Nọc: Quân Ù hiện lên, Báo Ù,lấy Quân Ù về cùng quân rác B trên tay, cài vào Thiên Khai Úp. Hạ hết phu trên tay, Dậy Thiên Khai tạo thành Phu cuối cùng, tiếp tục Hô Ù, Xướng Ù.

    - Khi Thiên Khai A của bài mình lại cùng quân rác B trên tay, kết hợp thành CẠ CHỜ Ù mà mở Nọc quân B đầu tiên(Động Nọc) chính là Quân Ù: ĐT Báo Ù, lấy quân B về xếp phu, Dậy Thiên Khai, hạ hết phu trên tay, tiếp tục Hô Ù Xướng Ù.

    -Với Thiên Khai Ăn Khàn Trình Phu hoặc Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn thì vận dụng như với trường hợp của Ù với Khàn. HÔ Ù khi Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn cần lưu ý: Hô Ù chung cho cả cụm “Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn... Trả Chén Làng”. TTSĐ phần này Lập Trình cho trả 2 chén cùng lúc mới được, nếu trả và hô từng chén thì là cả một qui tắc rắc rối kèm theo.

    -TRường hợp đặc biệt: Khi Động Nọc Dậy Thiên Khai có hơn 1 ĐT Ù, thì ưu tiên Quân Mở Nọc là Quân Ù có trước. Ví dụ: ĐT A chờ Ù 3 vạn, ĐT B chờ ù 3 sách, ĐT C có Thiên Khai 3 Sách và cũng chờ ù 3 vạn. Mở Nọc quân đầu tiên là 3 Vạn, ĐT A, ĐT C được Ù và xét ưu tiên theo Cửa Trước Sau. ĐT B ù với 3 Sách là cửa sau cùng.

    x-ĐÁNH Ù: ĐT đánh ra một quân bài để ĐT khác ù với quân bài đó.

    -Đánh Ù thông thường trong ván chơi, nếu có Gà Trong, ĐT phải vào gà 1 dịch.

    -Đánh Ù Đền: ĐT đánh ra quân bài phạm lỗi với qui định “Một Thành Hai Chờ” và ĐT khác Ù với quân bài đó, thì phải đền ván ù thay cả làng.

    -Đánh Ù Báo Đền: nếu quân đánh ra làng ù, lại là quân bị bắt báo, thì ĐT sẽ bị đền cả làng ván báo. Đánh “Một Ly Ông Cụ”, ĐT phải đền cả ván ù cho người Ù.

    y-HẠ Ù: sau Báo Ù, là thao tác Hạ Ù. Hạ Ù phải chuẩn, nếu không sẽ ù lành làng (ví dụ dậy khàn sai, sai phỗng) hoặc Bất Thành Phu. Trong TTSĐ, Hạ Ù chậm còn bị Ù lành làng.

    z-HÒA: là ván chơi không có ai Ù,không ai Báo.

    -HÒA THÔNG THƯỜNG: mở hết Nọc, trong TTSĐ là mở hết quân số 6, không ai Ù, là ván bài HÒA. Người Đầu Kê được cái ván tiếp.

    -HÒA DO CẢ LÀNG CHẠY: cả làng nhất trí cùng BỎ BÀI, cùng CHỊU. Ván sau sẽ thực hiện BẮT CÁI LÀNG. TT SĐ chưa Lập Trình phần này.

    -HÒA TRONG ĐIỀU KIỆN ĐẶC BIỆT: do có vấn đề nảy sinh trong ván chơi thuộc về sự cố người chơi, luật chơi, đồ chơi...


    15-CHỜ Ù: là CHỜ một quân bài hiện trên chiếu(Quân Ù) tổ hợp với bài đang có bảo đảm Tròn Bài + Có Lưng để Ù. Có nhiều dạng CHỜ Ù hoặc chuẩn bị được CHỜ Ù nêu dưới đây.

    a-THÀNH : CHỜ Ù khi bài đã Tròn nhưng chưa có Lưng.

    -Lưu Ý: TTSĐ cần phân biệt rõ “Thành” khác với “Thập Thành” để lập trình khoa học cho các luật liên quan như “Một Thành Hai Chờ”, “Vào Thành”, “Ăn Thành”...

    b-THẬP THÀNH: CHỜ Ù khi bài đã Tròn, đã có Lưng, chỉ còn đợi hiện lên Quân Ù là Ù.

    c-THIÊN THÀNH: là bài THIÊN Ù, mà Quân Bắt Cái chính là Quân Ù.

    d-CHẠM THÀNH: bài chỉ còn lẻ 1 quân rác A, khi CHẠM YÊU (mở Nọc cửa trì được Yêu) hoặc ăn vào một phu có sẵn thì đánh 1 quân rác A đi để bài Thành (hoặc Thập Thành).

    e-LAI THÀNH, VÀO THÀNH, ĂN THÀNH: thực hiện ăn thêm 1 quân bài để bài Thành (hoặc Thập Thành).

    f-BUỘC VÀO THÀNH: TT Chiếu nhiều vùng qui định bài chờ ù Bạch Định,chờ ù Chi Nẩy nếu có quân phù hợp buộc phải Vào Thành nếu không Ù sẽ là Ù Lành Làng hoặc bỏ 2 cước Tứ Trụ, chỉ tính các cước sắc còn lại.Nếu đánh “MỘT LY ÔNG CỤ”, hô Chi Nẩy khi không vào thành, còn bị đền làng ván Chi Nẩy.

    -TT SĐ chỉ qui định chờ Ù Chi Nẩy mới phải Vào Thành, không vào thành mà chiếu hiện lên Chi thì chỉ được Xướng Chi Lèo.

    -Ý kiến riêng: Không bắt buộc Vào Thành trong mọi trường hợp, bảo đảm xu hướng Ù to của thời nay; bảo đảm nguyên tắc “Được Ăn Thua Chịu”; bảo đảm không bất hợp lý với các cước Tứ Trụ khác như Thập Điều, Kính Cụ, thậm chí là Kính Tứ Cố.

    g-CHẠM CHỜ: bài chỉ cần ăn thêm 1 quân phù hợp là được CHỜ Ù.

    h-VỠ CHỜ: khi bài Chờ Ù, mở cửa trì bị Đấm Yêu hoặc Dậy Khàn, Dậy Thiên Khai không còn quân đánh xén, phải phá phu đánh đi, không còn được Chờ Ù nữa. Thậm chí bị Đấm Yêu hay Dậy Khàn ngoài ý muốn, không còn quân đánh xén để Vỡ Chờ, mà buộc phải đánh ra quân bài bị bắt báo, phải xin làng Báo gọi là XIN BÁO.

    i-CHỜ NHIỀU TIẾNG: bài Chờ Ù có thể chỉ chờ 1 Quân Ù. Khi chờ được nhiều Quân Ù thì được gọi là Chờ Nhiều Tiếng.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 16/3/21
    Hoa bát tiên_678Mod01 thích điều này.
  4. 16-PHỖNG: bài trên tay có hai quân giống hệt nhau là tạo thành Một Phỗng. Khi trên chiếu hiện lên quân đó ở bất kỳ cửa nào mà hô Phỗng, sẽ là ĂN PHỖNG, GỌI PHỖNG. Dưới Chiếu sẽ được một Phu bài gồm 3 quân giống hệt nhau, tạo thành 1 Lưng Trùng Tam. Không được tách ra 1 quân trong Phu Phỗng để tạo thành phu riêng biệt khác.

    a-PHỖNG CỐT TỬ: Một Phỗng có thể tạo ra ưu thế đặc biệt(thường Phỗng xong được chờ) cho bài trên tay gọi là Phỗng Cốt Tử.

    b-PHỖNG YÊU: có sẵn hai Quân Yêu giống hệt nhau Phỗng 1 Quân Yêu thứ ba giống thế khi mở Nọc.Phỗng Yêu cũng là 1 Lưng Trùng Tam.

    b-PHỖNG BỬA: thực hiện PHỖNG mà bài trên tay lẻ thêm ra, càng khó dẫn đến ù. Từ này có trong thành ngữ “Ăn Chầy, Phỗng bửa”.

    c-PHỖNG TAY TRÊN: Phỗng quân bài hiện ra tại cửa ăn của nhà trên.

    -Chơi TT, Phỗng là một lợi thế, nhưng cũng bất lợi khi gây khó cho các nhà khác là gây khó cho mình. ĐT nhiều kinh nghiệm rất ít Phỗng, đặc biệt là Phỗng Tay TRên(nhất là Phỗng Yêu) nếu Phỗng không thật cần thiết.

    d-PHỖNG THÀNH: thực hiện Một Phỗng mà sau đó chỉ đánh đi một quân là bài Thành.

    e-PHỖNG Ù: Ù với đúng quân bài vào Phỗng. Tổ Tôm Chiếu qui định Quân Ù nếu đã xuất hiện trước đó mà bỏ Phỗng thì không được Phỗng Ù, theo qui định “Không Phỗng Quân Trước, Không Được Phỗng Quân Sau”.

    -TTSĐ qui định, trừ trường hợp Ù Không Phỗng, mọi quân Ù vào Phỗng trong phu bí, kể cả khi có Lưng rồi, vẫn phải hô Phỗng xong rồi sau đó mới được hô Ù thì mới có điểm. Trong TT Chiếu không qui định như vậy.

    - Ý KIẾN RIÊNG: Đa số các vùng chơi TT Chiếu qui định không phỗng quân trước thì không được Phỗng Ù quân sau. Qui định này mâu thuẫn với nguyên tắc Ù LÀ KHÔNG HỒI TỐ CÁC NƯỚC BÀI TRƯỚC ĐÓ (đương nhiên gồm nước Bỏ Phỗng); không công bằng khi so với qui định “ĐÁNH ĐI CÒN Ù LẠI ĐƯỢC”(đánh quân trong phu đi nặng tội hơn còn được tha mà) hoặc “KHÔNG Ù QUÂN RA TRƯỚC, ĐƯỢC Ù QUÂN RA SAU”; ; Cuối cùng, như “VÁN BÀI ĐỜI”, bao giờ cũng có một “ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM”, “MỘT PHẦN NGHÌN TIA HY VỌNG” cho tất cả mọi người. Mình trình bày ý kiến này, các Mod đã phê duyệt và dùng trong Game, mình mừng vì người trẻ hôm nay, đủ phương tiện, đủ tầm cao hiểu rộng, làm thoáng, xử lý giỏi hơn lớp trước nhiều.

    f-PHỖNG NHANH: thực hiện Phỗng phải nhanh, tránh Phỗng chậm nhà khác đã hạ Phu làm bài bị lộ. Từ này nằm trong thành ngữ “Ăn Khoan Phỗng Nhanh”.

    g-PHỖNG PHÁ LÀNG: thực hiện Phỗng không có lợi cho bài mình nhưng giảm thiểu cước sắc, ngăn nhà đỏ,đánh quân lành cho chóng hòa lúc cuối Nọc...

    h-PHỖNG LƯNG: Phỗng tạo ra Lưng của bài.

    i-PHỖNG TÁI KIẾN: khi Bất Thực Khàn A, hiện lên quân trong A mà thực hiện Phỗng. Dịch nôm nghĩa Hán Việt là Phỗng khi THẤY quân trong Khàn Bất Thực tạo lại hình dáng đầu tiên của Khàn.

    - TT Chiếu qui định chỉ được Phỗng Tái Kiến khi có ít nhất một phu dọc đi với quân trong Khàn. Tức là khi Phỗng Tái Kiến hạ phu Phỗng đồng thời phải có một phu dọc kèm theo. TT Chiếu nhiều vùng cũng không phân biệt rõ là phu dọc có từ đầu ván bài hay có thể tạo ra trước khi Phỗng Tái Kiến. TT SĐ thì thực hiện khác, cho Phỗng Tái Kiến khi có phu bí kèm theo mà không có phu dọc. Dị luật này khác với hầu hết Lệ Làng xưa, như vậy có nên sửa trong thời gian tới. Phỗng Tái Kiến mà không có một phu khác cùng hạ xuống trên chiếu là bị Báo vì dính vào lỗi “Bất Thực Trùng Trục”. TTSĐ cũng chưa thực hiện bắt lỗi này trong Game.

    -Khi Phỗng Tái Kiến, ĐT trả chén cho làng và hô “Bất Thực Khàn A, Phỗng Tái Kiến, ăn cả trả chén làng”. TTSĐ mục hô Phỗng Tái Kiến còn chưa thực hiện. Phỗng Tái Kiến có thể Việt Hóa là “PHỖNG KHI THẤY”.

    -Tổ Tôm Chiếu còn có khái niệm “KIẾN BẤT TÁI”, chính là khái niệm “THẤY KHÔNG PHỖNG” trong TT SĐ.

    k-PHỖNG PHỤC VỤ: một nhà A Phỗng liên tục, để cho nhà dưới lợi bài Ù nhiều, làng bình luận nhà A là “Phỗng Phục Vụ”.

    l-PHỖNG BẬY: thực hiện Phỗng và bị làng bắt Báo. Một số vùng gọi là PHỖNG ẨU, PHỖNG LÁO.

    -Phỗng một quân bài đã xuất hiện trước đó mà không Phỗng. Báo vì phạm lỗi “KHÔNG PHỖNG TRƯỚC LẠI PHỖNG SAU”.

    -Phỗng một quân bài mà cả Phỗng đã lộ trong phu dưới chiếu. Lưu ý Phỗng Tái Kiến hợp lệ bởi ít nhất còn 1 quân bài trong Phỗng trên tay. Báo vì phạm lỗi “PHỖNG LỘ”.

    -Phỗng một quân bài A(không phải là Bất Thực Khàn A) mà 1 quân A của Phỗng đã nằm trong 1 phu dọc dưới chiếu. Báo vì phạm lỗi “PHỖNG BẤT THÀNH PHU”. Phỗng Tái Kiến cũng không vi phạm lỗi này.

    -LT TTSĐ còn một điểm ở mục hô Ù KHÔNG PHỖNG chưa phù hợp chơi Tổ Tôm ở nhiều vùng là khi Hạ Ù với Quân Ù A, ĐT có 1 phu dọc với A dưới chiếu, lại còn dư một quân A trên tay thuộc phu Bí(Không phải trường hợp Bất Thực Khàn A) vẫn phải hô Ù Không Phỗng nếu không bị phạt Ù Lành Làng. Nguyên tắc không được Phỗng quân A khi nó nằm trong phu dọc dưới chiếu đã có ở đây mâu thuẫn với lỗi phạt này. MOD lập trình xem xét điều chỉnh.



    17-KHÀN: Khàn là tổ hợp 3 quân giống hệt nhau có ngay trên tay lúc bắt đầu ván chơi. Khàn mà úp xuống chính là một Phu Tròn, là Lưng Trùng Tam.

    a-KHÀN BẤT THỰC: Bất Thực là Không Ăn.

    -Không tạo thành phu Khàn nữa(không Ăn Khàn) là “Bất Thực Khàn”, sẽ không úp xuống chiếu mà cầm trên tay. Khi Bất Thực Khàn thì phải lấy Một Chén về để báo làng và thực hiện việc Trả Chén khi ăn, khi Ù đúng qui định.

    -Bất Thực Khàn chỉ được phép đánh đi một quân trong Khàn.

    -HÔ Ù khi Bất Thực Khàn A phải nêu rõ các diễn biến của Khàn Bất Thực nếu không sẽ Ù Lành Làng. Có thể là các trường hợp “Bất Thực Khàn A ăn cả trả chén làng”, “Bất Thực Khàn A ăn hai đánh một trả chén làng”, “Bất Thực Khàn A Kiến Bất Tái ăn cả trả chén làng”, “Bất Thực Khàn A Kiến Bất Tái ăn hai đánh một trả chén làng”.Ở TTSĐ “Kiến Bất Tái” dịch luôn Tiếng Việt “Thấy Không Phỗng” là rất hay.

    -TT Chiếu ở nhiều vùng qui định Bất Thực Khàn phải có ít nhất một phu dọc.

    -TT SĐ bỏ điều kiện Bất Thực Khàn buộc phải có phu dọc là hợp lý. Như vậy khắc phục được trường hợp bài có Khàn 7 văn, lại có 2 con 3 vạn, 2 con 3 sách (tạo thành Bí Tôm với 7 văn); có 2 con 7 vạn, 2 con 7 sách(tạo thành Bí Thất với 7 văn) và không có phu dọc kèm theo 7 văn. Nếu không cho Bất Thực Khàn 7 văn, trôi đi cả hai nhóm, phải đánh đi ít nhất 4 con thì phi lý quá. Lưu ý Bất Thực Khàn khi Ù không có phu dọc, chỉ có một phu bí phải Xướng Bí Hoàn Bí mới được có điểm.

    - Tổ Tôm Chiếu nhiều vùng qui định Bất Thực khi có nhiều Khàn phải thông báo KHÀN CAO, KHÀN THẤP là không cần thiết và vướng cho Game, TTSĐ bỏ mục này. TT Chiếu qui định phải thông báo bất thực khàn cao, thấp để chống trường hợp đổi khàn, trên mạng Internet việc này bị loại trừ, không thể đổi khàn được nên cũng bỏ điều khoản đó.

    -Tuy vậy LT TTSĐ cho Phỗng Tái Kiến khi có một phu bí kèm theo cùng hạ xuống là hơi dị biệt quá, đề nghị MOD lập trình xem xét.

    b-KHÀN ÚP: tức là không Bất Thực Khàn mà ÚP KHÀN trên chiếu.

    c-KHÊ KHÀN: Úp Khàn mà quên Dậy Khàn khi quân đó hiện ra trong khi đánh hoặc khi Ù. Khê Khàn nếu Ù thì là Ù Lành Làng. Đã quên Dậy Khàn lúc đánh thì chỉ khi Ù mới được Dậy sau.

    d-KHÀN TREO, TREO KHÀN: có Khàn quên Úp Khàn, cũng không Bất Thực Khàn thì gọi là KHÀN TREO, nếu Ù cũng là Ù Lành Làng.

    e-DẬY KHÀN: úp Khàn, khi trên chiếu hiện lên quân trong Khàn thì DẬY KHÀN tạo thành phu có 4 quân giống hệt nhau, là 1 LƯNG TRÙNG TỨ.

    -Khi Ù, nếu Quân Chờ Ù không phải là Quân Trong Khàn, thì hạ xong hết bài mới Dậy Khàn. Tổ Tôm Điếm qui định điều này rất chặt chẽ, nếu Dậy Khàn trước là thành Ù Lành Làng. Các ĐT lưu ý dậy đúng lúc, dù chưa bị phạt dậy sai thời điểm.

    -Ý kiến riêng: trong LT TTSĐ, thời gian dành cho chờ DẬY KHÀN nên dài hơn cho chờ ăn, chờ Phỗng 2 đến 3 giây đồng hồ.

    f-TIỀN THỰC HẬU DẬY(tức là TIỀN ĂN PHU, HẬU DẬY KHÀN): khi ÚP KHÀN, mà ăn được quân trong Khàn khi nhà trên đánh xuống hoặc mở Nọc cửa trì.

    -Lưu ý: chỉ hai trường hợp nêu trên là được “Tiền Thực Hậu Dậy” nhé. Nhà trên mở Nọc dù không ăn thì nhà dưới cũng không thể “Tiền Thực Hậu Dậy”, chỉ có thể Dậy Khàn để ăn quân đó.

    g-TIỀN Ù HẬU DẬY: Úp Khàn A, ù với Quân Ù A nhưng phải dùng tạo ra thêm 1 phu khác, thì phải BÁO Ù, xếp phu mới tạo thành từ A, hạ hết bài rồi mới Dậy Khàn. Lúc HÔ Ù, cần HÔ rõ điều kiện Tiền Ù Hậu Dậy, sau đó mới XƯỚNG Ù (CƯỚC SẮC Ù).

    -Ví dụ: Úp Khàn 3 văn, trên tay lẻ 4,5 văn lại chờ Ù 3 văn, 6 văn; khi chiếu hiện lên 3 văn thì BÁO Ù, hạ phu 345 văn, hạ hết các phu khác rồi Dậy Khàn. Khi HÔ Ù nhớ HÔ thêm điều kiện Tiền Ù Hậu Dậy rồi mới Xướng Cước Sắc.

    h-TIỀN DẬY HẬU Ù: Úp Khàn A, ù với Quân Ù A, mà không cần tạo thêm phu mới nào ở trường hợp Tiền Ù Hậu Dậy thì Dậy Khàn, Báo Ù rồi mới hạ các phu khác trong bài. Lúc HÔ Ù, cần HÔ rõ điều kiện Tiền Dậy Hậu Ù rồi mới Xướng Cước Sắc. TT chiếu nhiều vùng và TTSĐ bỏ mục Hô Ù này.

    i-KHÀN YÊU: là ban đầu bài trên tay có 3 Quân Yêu giống hệt nhau.

    -Bất Thực Khàn Yêu, khi Ù dù quân yêu không tổ hợp với quân khác thành phu dọc, phu Bí thì 3 quân yêu đã Bất Thực Khàn vẫn được tính là phu tròn, vẫn được Ù. Trường hợp này cũng phải HÔ Ù là Yêu Hoàn Yêu.

    k-BẤT THỰC TRÙNG TRỤC: Bất Thực Khàn A mà khi Ù không có phu dọc hoặc phu bí tổ hợp trôi hết quân trong khàn A, còn chơ lơ 3 quân A(hoặc còn rác 1,2 quân A). Lưu Ý, Khàn Yêu không phụ thuộc điều này vì được vận dụng qui định “YÊU HOÀN YÊU”.

    -TT Chiếu một số vùng còn qui định không hợp lý là khi Ù thì Bất Thực Khàn bắt buộc có một tổ hợp phu dọc kèm theo nếu không bị phạt “Bất Thực Trùng Trục” cho Ù Lành Làng.

    -TT SĐ hay hơn không bắt buộc Bất Thực Khàn phải có tổ hợp phu dọc kèm theo khi Ù. Khi Ù, điều kiện HÔ Ù đúng phải HÔ thêm “BÍ HOÀN BÍ” nếu khàn chỉ tạo ra một phu bí.

    -Tuy vậy TTSĐ khi Bất Thực Trùng Trục cho Ù Lành Làng lại không hợp lý. Bất Thực Khàn, nghĩa là không ăn Khàn nữa, khi ù còn 3 quân chơ lơ đó(hoặc 1,2 quân) không tạo ra phu nào cả, là 3 Quân Rác, vậy phải Bị Báo, đền làng mới đúng. Lỗi nặng này là “Bất Thành Phu”.

    l-CẬY KHÀN:là thao tác khi ăn một phu phải LỘ KHÀN bằng cách ngửa lên 1 quân trong Khàn Úp.


    18-THIÊN KHAI: là tổ hợp 4 quân bài giống hệt nhau có ngay trên tay khi bắt đầu ván chơi. Thiên Khai mà úp xuống chiếu là một Lưng Trùng Tứ.

    a- ÚP THIÊN KHAI: 4 quân trong Thiên Khai đều úp kín xuống chiếu.

    b- DẬY THIÊN KHAI: Thiên Khai Dậy khi mở quân Nọc đầu tiên, thường gọi là “ĐỘNG NỌC DẬY THIÊN KHAI”.

    -Khi Dậy Thiên Khai, nếu các nhà khác chờ Ù đúng quân trong Thiên Khai đó, họ sẽ được Ù. Điều này đã được nêu trong phần Ù VỌNG.

    -Các ván bài Ù Với Thiên Khai được nêu trong Điều 14.v.

    -TT SĐ, Thiên Khai tự động Dậy khi Động Nọc (mở quân đầu tiên của Nọc).

    -Ý kiến riêng: trong LT TTSĐ, thời gian dành cho chờ ĐỘNG NỌC DẬY THIÊN KHAI nên dài hơn cho chờ ăn, chờ Phỗng 2 đến 3 giây đồng hồ.

    c-THIÊN KHAI ĂN KHÀN TRÌNH PHU: là Bất Thực Thiên Khai(không ăn Thiên Khai), chỉ úp 3 quân bài dưới chiếu (chỉ Ăn Khàn) cùng với một phu dọc tổ hợp từ 1 quân trong Thiên Khai. Phu này ngửa lên để trình làng dưới chiếu.

    d-BẤT THỰC THIÊN KHAI BẤT THỰC KHÀN: không ăn Thiên Khai 4 quân, cũng không ăn Khàn 3 quân mà cầm cả trên tay 4 quân trong Thiên Khai, lấy về 2 cái Chén Bất Thực.

    -TT Chiếu nhiều vùng qui định nếu muốn Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn bắt buộc phải có ít nhất 2 phu dọc tổ hợp từ quân trong Thiên Khai. Tương tự yêu cầu buộc có 1 phu dọc trong Bất Thực Khàn là không hợp lý nên TT SĐ cũng bỏ qui định này.Ví dụ tương tự khi Bất Thực Khàn 7 văn mà có Bí Tư vạn sách của các quân Tam, Thất khác. Lưu ý khi Ù mà quân A không tạo thành phu dọc tương ứng nào và chỉ tạo ra phu bí thì phải HÔ Ù Bí Hoàn Bí mới có điểm.

    -Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn được phép đánh đi 2 quân trong Thiên Khai.

    -Khi Ù thì HÔ Ù, XƯỚNG Ù tương tự như khi Bất Thực Khàn, có khác số quân ăn và số quân đánh đi và không có Phỗng Tái Kiến hoặc Kiến Bất Tái.

    -TT Chiếu nhiều vùng qui định Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn lấy về 2 chén một úp, một ngửa cũng không cần thiết, gây rối cho Game, TT SĐ nên bỏ.

    Thực ra, người chơi đều không rõ trả chén ngửa, trả chén úp thế ra sao, kể cả trong Game.

    e-THIÊN KHAI HỎNG: tương tự Khàn, nếu quên Dậy Thiên Khai bị Khê Thiên Khai(trong Game Dậy Thiên Khai tự động nên không có lỗi này); nếu quên Thiên Khai trên tay bị Treo Thiên Khai và nếu Ù cũng sẽ Ù Lành Làng.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 26/3/21
    Hoa bát tiên_678Mod01 thích điều này.
  5. 19-ĐIỂM Ù: các dạng bài Ù với số điểm khác nhau. Câu vắn tắt qui định tính điểm Ù khi bắt đầu chơi Tổ Tôm Chiếu ở nhiều vùng Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh... vào Thế Kỷ 20 là “SUÔNG HAI, DỊCH MỘT, TÔM BỐN, LÈO NĂM; BỘI TAM, BỘI TỨ, BỘI LỤC”. Ù Suông là tiếng Ù cơ sở(không có Dịch nào) được qui định là 2 Điểm.

    a-ĐIỂM, DỊCH:

    -ĐIỂM: qui định số lượng đơn vị Điểm cho một tiếng Ù.

    -Dịch: là số Điểm Thưởng cho một tiếng Ù, 1 Dịch là 1 Điểm(với qui tắc trên).

    b-TỨ TRỤ: là 4 Cước Sắc Ù nhiều Điểm khi chơi Tổ Tôm, được nói là “BỘI TAM, BỘI TỨ, BỘI LỤC”.Ù Thập Điều, Ù Kính Cụ bằng 3 ván Suông(Bội Tam); Ù Bạch Định bằng 4 ván suông(Bội Tứ); Ù Chi Nẩy bằng 6 ván suông(Bội Lục). Đặc biệt Ù Kính Tứ Cố bằng 2 ván Chi Nẩy, nhiều điểm hơn cả Ù Tứ Trụ.

    c-Ù SUÔNG: tính là 2 Điểm.

    -Ù Suông là Ù ván đầu tiên, không có cước sắc gì kèm theo.

    d-Ù THÔNG = SUÔNG(2 Điểm) + 1 DỊCH (là 1 Điểm) = 3 ĐIỂM.

    -Ù THÔNG là ù ván thứ hai liên tiếp. Ù Thông ván thứ ba tiếp theo, được gọi là Tam Khôi.

    e-Ù TÔM = THÔNG (3 Điểm) + 1 DỊCH(1 Điểm) = 4 ĐIỂM.

    -Ù TÔM là ù mà trong bài có 1 lưng là THẤT VĂN + TAM VẠN + TAM SÁCH.

    f-Ù LÈO = TÔM + 1 DỊCH = 5 ĐIỂM.

    -Ù LÈO là ù mà trong bài có 1 lưng là CHI CHI + CỬU VẠN + BÁT SÁCH.

    g-Ù KÍNH CỤ =Ù THẬP ĐIỀU = BỘI TAM SUÔNG = 3x2=6 ĐIỂM.

    -Ù KÍNH CỤ là ù mà trong bài có 20 Quân Đen với 1 QUÂN ÔNG CỤ.

    -Ù THẬP ĐIỀU là ù mà trong bài có 11 Quân Đen với 10 QUÂN ĐỎ.

    -Có vùng gọi Ù Thập Điều là Ù THẬP HỒNG hay Ù MƯỜI ĐỎ.

    h-Ù BẠCH ĐỊNH = BỘI TỨ SUÔNG = 4x2 = 8 ĐIỂM.

    -Ù BẠCH ĐỊNH là ù mà trong bài chỉ có 21 Quân Đen.

    i-Ù CHI NẨY = BỘI LỤC SUÔNG = 6x2 = 12 ĐIỂM.

    -Ù CHI NẨY là Ù mà bài lẻ quân rác Cửu Vạn, Bát Sách chờ duy nhất một quân Chi Chi.

    -Nếu Chiếu Làng qui định “Buộc Vào Thành” mà không Vào Thành, chỉ được Ù Chi Lèo.

    k-Ù KÍNH TỨ CỐ = HAI CHI NẨY = 2x12 = 24 ĐIỂM.

    -Ù KÍNH TỨ CỐ là Ù mà bài có 17 Quân Đen với 4 QUÂN ÔNG CỤ.

    l-Ù BẠCH THỦ = Ù TÔM = 4 ĐIỂM.

    -Ù BẠCH THỦ là Ù mà chờ duy nhất 1 tiếng Phỗng Ù.

    -TT Chiếu một số vùng thêm điều kiện Ù Bạch Thủ là 2 quân của Phỗng Ù đều là quân rác sẽ không hợp lý vì Cước Ù Bạch Thủ chỉ bằng Tôm, không đòi hỏi điều kiện khó thế.

    -Lưu ý: một trường hợp đặc biệt, Bài Thành, chỉ tạo lưng được từ duy nhất 1 Phỗng Ù, thì cũng là Ù Bạch Thủ. TTSĐ lưu ý lập trình Tiếng Ù này cho đúng luật.

    m-Ù XUYÊN NĂM GIAN = Ù LÈO = 5 ĐIỂM.

    -Ù XUYÊN NĂM GIAN là Ù thành phu dọc có 5 quân mà Quân Ù xen vào giữa 4 quân rác . Ví dụ bài còn quân rác 2356 văn, chờ Quân Ù 4 văn.Lưu ý các quân rác là chưa gá vào bất kỳ phu nào, đặc biệt không phải quân Yêu.

    n-Ù XUYÊN BÍ TƯ = Ù LÈO = 5 ĐIỂM.(một số vùng gọi là Bí Tư).

    -Ù XUYÊN BÍ TƯ là ù thành phu bí có 5 quân và duy nhất một Quân Ù xen vào giữa 4 Quân Rác. Ví dụ bài rác 2 con 4 vạn, 2 con 4 sách chờ Quân Ù 4 văn. Lưu ý các quân rác là chưa gá vào bất kỳ phu nào, đặc biệt không phải quân Yêu. Không có Ù Xuyên Bí Tư với Quân Ù là Nhị Văn với quân rác Nhị Vạn, Nhị Sách(vì chờ được cả 8 văn) hoặc Quân Ù là Tam Văn với quân rác Tam Vạn, Tam Sách (vì chờ được cả với 7 văn). Khi bài chưa có lưng, Ù được Xuyên Bí Tư với Quân Ù là 7 văn thành Bí Tôm (rác 2 quân 3 vạn, 2 quân 3 sách) hoặc 8 văn thành Bí Sườn(rác 2 quân 2 vạn, 2 quân 2 sách). TTSĐ cũng cần lưu ý lập trình điều này cho đúng luật.

    -Ù Xuyên Bí Tư cũng không tính cho trường hợp Bất Thực Khàn ăn đón, ví dụ Bất thực Khàn 4 vạn(không có phu nào kèm theo), rác thêm 1 quân 4 sách, thì lên 4 văn cũng không được tính là Xuyên Bí Tư. Trường hợp này, nếu là rác 2 quân 4 sách, lên 4 văn là Xuyên trôi 5 quân, cũng chưa thấy Lệ Làng xưa hay TTSĐ đề cập. Theo mình như vậy được tính là Xuyên Bí Tư, vì nó đáp ứng thừa Xuyên Bí 4 quân rác, dù Khàn là tự ĐT làm rác.

    -Ý kiến riêng: Ù Xuyên Bí Tư cũng nên bỏ điều kiện chờ duy nhất một Quân Ù, bớt độ khó vì cước ù cũng chỉ bằng Lèo.

    o-Ù TAM KHÔI = TÔM = 4 điểm, 1 dịch. Ù một tiếng cước sắc có thêm Tam khôi = Điểm Tiếng Ù thông thường + 1 dịch của Tam Khôi(1 Điểm).

    -TAM KHÔI là chỉ việc Ù Thông đến ván thứ ba liên tiếp.

    -Ví dụ:Ván thứ nhất ù Suông, ván thứ hai Ù Tôm, ván thứ ba Ù lèo thì có TAM KHÔI LÈO = LÈO + TAM KHÔI = 5 + 1 = 6 ĐIỂM.

    p-Ù TỨ KHÔI ĐẾN N-KHÔI= ĐIỂM Ù THÔNG THƯỜNG + THÔNG N KHÔI = ĐIỂM Ù THÔNG THƯỜNG + (N – 2) x DỊCH.

    -Ví dụ: TỨ KHÔI TÔM = TÔM + TỨ KHÔI = 4 + 2 = 6 ĐIỂM.

    BÁT KHÔI KÍNH CỤ = KÍNH CỤ + (8 – 2) x 1 ĐIỂM = 12 + 6 = 18 ĐIỂM.

    -Ý kiến riêng: Việc một nhà Ù Thông nhiều đầu tiên do nhà đó vào dây đỏ, trình độ cao và do nhà trên đánh có vấn đề.Với nguyên tắc thưởng phạt nghiêm minh, trách nhiệm quyền lợi rõ ràng, nên có phạt với nhà trên này. Ở chỗ mình, nhà dưới mà Ù Thông đến ván N là nhà trên phải vào gà trong (N-2)x 1 DỊCH, TTSĐ có thể xem xét nội dung này.

    q-TTSĐ vận dụng công thức SUÔNG 4, DỊCH 2, TÔM 8, LÈO 10....BỘI TAM, BỘI TỨ, BỘI LỤC, BỘI CỬU (Kính Tứ Cố chỉ tính gấp rưỡi Chi Nẩy). Bạch Thủ, Thiên Ù, Tam Khôi bằng Tôm. Xuyên bằng Lèo.

    -Bài Ù có nhiều cước sắc thì tính theo công thức = Điểm của Tiếng Ù cao nhất + Dịch của các cước sắc khác. Dịch cộng thêm của cước Thông, Tôm, Tam Khôi, Bạch Thủ là 1 Dịch, bằng 2 Điểm(Mỗi Khôi tiếp theo đều cộng thêm 1 Dịch). Dịch cộng thêm của cước Lèo, Xuyên là 2 Dịch, bằng 4 Điểm.

    r-DỊ LUẬT KHÁC: Một số vùng có thêm các Tiếng Ù khác, nhưng không phổ cập như Xuyên 2 Quân, Xuyên 3 Quân (mình cứ hay gọi là XIÊN), KÍNH BÀ LÃO...


    20-CHIẾU: khi chơi Tổ Tôm, Chiếu là một ước lệ về vị trí ngồi của người chơi, nơi để bài, nọc, chén, các phu đã ăn, úp Khàn, Thiên Khai.

    a-CHIẾU LÀNG: chính là một bàn chơi, nếu đủ có 5 người chơi và đủ các phụ thuộc khác(người phục vụ, đồ chuyên dùng,bộ bài chuẩn, trang bị riêng).

    -Trong 1 Chiếu Làng, khi chơi Tổ Tôm Bí Ngũ có 5 nhà: bản thân Đấu Thủ A, NHÀ TRÊN, NHÀ DƯỚI, 2 NHÀ CHÉO.

    - Đấu Thủ cố gắng TRÁNH TRÊN, ĐÌ DƯỚI, PHỤC VỤ CHÉO CÁNH, tìm cách HỢP CẠ.

    b-DƯỚI CHIẾU: chính là trên MẶT CHIẾU, là trong CHIẾU LÀNG.

    c-VÀO CHIẾU: là tham gia vào bàn chơi.

    d-CAO THẤP: trong Chiếu Làng, hết cuộc chơi sẽ có người thua được, thông qua kết quả người ta phân biệt trình độ CAO THẤP.

    - -Có câu sặc mùi “Tinh thần A.Q” là “SẮC NHƯ NƯỚC CŨNG THUA THẰNG VẬN ĐỎ”.

    - -Trong Chiếu Làng có nhiều câu chê bai, khích bác, hài hước: “THẤP NHƯ VỊT”, “MÁY PHÔ TÔ CÓP PY”, “PHỖNG PHỤC VỤ”, “CỦA NÚI”, “CHÈO ĐÒ CHO MÁT”, “TREO TRANH BÁN TẾT”, “GÀ, VỊT, ẾCH”, “MANG CHÉN VỀ UỐNG NƯỚC”...


    21-CHÉN: dùng bất thực khi chơi Tổ Tôm, để trên chiếu, cạnh đĩa Nọc.

    a-SỐ CHÉN: số lượng chén dùng bất thực có thể nhiều hơn, nhưng thông thường mỗi Chiếu Làng chơi Tổ Tôm Chiếu chuẩn bị 3 chén.

    b-LOẠI CHÉN: các Chén Bất Thực đồng loại, nhưng khi dùng nhiều vùng có qui định thêm “Chén Úp, Chén Ngửa”.

    c-CHÉN ÚP, CHÉN NGỬA: qui định dùng chén ở một số vùng cho Bất Thực Thiên Khai Bất Thực Khàn.

    d-TRẢ CHÉN: thao tác trả lại CHÉN cho làng khi toàn bộ các quân bài trong Khàn Bất Thực đã lộ ra trên chiếu, dù là để ăn hay Ù. Khi Trả Chén cần hô đúng nếu không Ù sẽ bị phạt thành Ù Lành Làng.

    -Thao tác TRẢ CHÉN như thao tác Ù: BÁO TRẢ CHÉN + HÔ TRẢ CHÉN + TRẢ CHÉN.

    e-CHÉN Trong LT TTSĐ: số chén dự trữ cho bất thực là không hạn chế. Tuy có hình vẽ Chén Ngửa, nhưng không thực hiện “Chén Ngửa, Chén Úp” vì bất cập và không thật cần thiết.


    22-LỆ LÀNG: là qui định riêng của một làng thôn, vùng miền về một lĩnh vực nào đó. LỆ LÀNG CHO CHƠI Tổ Tôm Chiếu là các qui định phải tuân theo khi chơi ở địa phương đó. LỆ LÀNG trong chơi Tổ Tôm Chiếu là một thứ “LUẬT BẤT THÀNH VĂN” của Tổ Tôm.

    a-“PHÉP VUA THUA LỆ LÀNG”: đến đâu chơi phải theo Lệ Làng ở đó. Do vậy mọi cuộc chơi Tổ Tôm, bắt đầu Vào Chiếu, chủ nhà hoặc người có uy tín nhất, hay NHÀ BẮT CÁI ĐẦU sẽ công bố LỆ LÀNG.

    b-NHẬP GIA TÙY TỤC: bởi tính chất Lệ Làng như đã nêu, không nói ai đúng ai sai, phải chấp nhận “Luật Bất Thành Văn” được công bố khi tham gia.

    c-BIỆT LỆ, DỊ LUẬT: là qui định khác biệt, mới có so với những điểm chung của nhiều Lệ Làng.

    d-GÀ: là phần Điểm Dịch người Ù được hưởng thêm tương ứng một số Tiếng Ù theo qui định.

    -GÀ TRONG: trừ ĐIỂM DỊCH theo qui định chung, một số Chiếu Làng chơi thêm GÀ TRONG, tức là với một số Tiếng Ù đặc biệt, người Ù được ăn thêm con GÀ TRONG. GÀ TRONG do tất cả ĐT trong làng góp vào 1 lần, có thể bổ sung nhiều lần bằng nhiều cách. Có con GÀ TRONG nhiều ván chưa bị bắt, “GÀ GIÀ THÀNH ĐÀ ĐIỂU”, “BÉO Ị”, quyết định được thua cả hội bài.

    -CÁC LOẠI GÀ TRONG:

    +GÀ CÔNG NGHIỆP: tạo thành do ĐT phải góp gà (thường là 1 dịch) cho mọi trường hợp: Gà Đầu Ván(bắt đầu mọi ván chơi) + Gà Nhái(các ĐT không bị nhái góp) + Gà Đánh Ù(người đánh ra Quân Ù phải góp) + Gà Thông(nhà trên người ù góp bằng dịch của Thông, Tam Khôi, Tứ Khôi...N Khôi) + Gà Bỏ Ù, Gà Ù Lành Làng, Gà Ù Báo, Gà Đền Làng(ĐT mắc lỗi này phải góp) + Gà Quân Lộ (ĐT làm lộ quân do Hạ Phu Thừa. Gà này lập trình khó, chắc phải hoàn thiện dần) + Gà Bị Đè Ù(ĐT bị đè ù), Gà Đầu Hội(góp trước ván đầu tiên, thường to hơn Gà Đầu Ván)...Tùy Lệ Làng mà số GÀ CÔNG NGHIỆP thêm bớt, nhiều ít khác nhau.

    +GÀ NHÀ: chỉ áp dụng góp gà với các lỗi mắc phải.Bỏ Gà Đầu Ván(vẫn còn 1 con Gà Đầu Hội), Gà Nhái, Gà Bị Ù Đè...

    +GÀ RỪNG: chỉ áp dụng góp góp Gà Đầu Hội với gà cho các lỗi nặng như Gà Ù Báo, Gà Đánh Ù, Gà Ù Thông...

    -GÀ NGOÀI: Điểm Dịch người Ù được hưởng thêm, qui định theo một số Tiếng Ù, có thể bằng tới số dịch của cước sắc. Thí dụ GÀ CƯỚC SẮC được hưởng thêm khi Ù có Tôm, Lèo hay Ù Tứ Trụ.

    +GÀ ĐƠN: chỉ tính Gà Cước Sắc với cước sắc lớn nhất. Ví dụ: Thập Điều, Tôm, Lèo, Xuyên Bí Tư: chỉ tính một cước sắc của Gà Thập Điều(trả thêm cho ĐT ù 3 dịch).

    +GÀ CHỒNG: bài Ù có bao nhiêu cước sắc, cộng tất cả.Ví dụ với ván Thập Điều Tôm Lèo Xuyên Bí Tư, tính gà bằng Dịch Cước Sắc sẽ có: Cước Sắc Thập Điều(Bội Tam = 3 dịch), Cước Sắc Tôm(=1 dịch), Cước Sắc Lèo(=2 dịch), Cước Sắc Xuyên Bí Tư(=Lèo = 2 dịch). Tổng Cộng Gà Chồng phải trả thêm cho người ù là 8 Dịch.

    -Từ dùng Gà Ngoài, Gà Trong hay bị lẫn lộn.

    -Chiếu Làng vui chơi có thưởng có hai dạng: ĐÁNH GOM và ĐÁNH QUĂNG.

    +Đánh Gom: các ĐT góp 1 số điểm bằng nhau đầu mỗi Hội Bài vào quĩ chung(hay gọi là Tiền Làng). Ai Ù thì lấy Điểm trong tiền làng.Đánh hết Hội thì gom tiếp. Thường Đánh Gom mới có Gà Ngoài. Đánh Gom việc thua được đỡ sát phạt hơn.

    +Đánh Quăng: mỗi ván Ù, các ĐT trả luôn cho người Ù số điểm của ván. Đánh Quăng thường chỉ chơi Gà Trong.

    - TRẬN BÀI, CANH BÀI: là cả một buổi chơi, từ ván đầu đến lúc kết thúc.

    -HỘI BÀI: một lần góp của các ĐT khi Đánh Gom. Hết Hội, các ĐT lại gom tiết.

    -VÁN BÀI: từng ván chơi trong mỗi Hội Bài, Canh Bài.

    e-CHỊU,CHẠY, BỎ BÀI: thấy bài xấu quá xin không tham gia ván chơi.

    -Mỗi vùng qui định điều kiện cho CHỊU, CHẠY, BỎ BÀI khác nhau.

    -Tổ Tôm Chiếu nhiều vùng cho tới 2 người chịu. TTSĐ chỉ nên cho phép 1 người chịu(nếu có lập trình).

    f- NHẤT TIÊU NHỊ XƯỚNG (có nơi nói là Nhì Xướng): Việc NHÌN thấy quân bài, phu bài, ván bài quan trọng hơn việc nghe XƯỚNG, HÔ về quân bài, phu bài, ván bài đó.

    -Đúng sai khi ăn,phỗng, dậy, Ù với 1 quân bài thì “THỰC MỤC SỞ THỊ” = “NHẤT TIÊU” là quyết định.ĐT NGHE thấy mở nọc hay đánh ra 7 văn rồi ăn, phỗng, dậy, ù lại sai vì đó là con 7 vạn thì ĐT bị sai, còn Làng đúng vì NHÌN thấy con 7 vạn nằm đó.

    -Chơi TT Chiếu, ĐT còn hay dùng tiếng lóng để gọi Quân Bài, thì việc Nhất Tiêu Nhị Xướng càng quan trọng.

    -NHẤT TIÊU NHỊ XƯỚNG còn một lối giải thích khác: trước khi ăn, đánh, ù với quân bài, ĐT phải nhìn kiểm tra thấy đúng lại rồi hãy xướng.

    g-NHẤT NHỊ TẠI VỊ: chỉ việc chọn Bài Cái, khi số dư tổng 2 Quân Bài Bắt Cái chia 5 là 1 hoặc 2 thì phần bài đầu tiên, bên phải là Bài Cái.

    -LT TTSĐ Bắt Cái bằng 1 quân, nên chỉ ngay ra Bài Cái, không vận dụng Nhất Nhị Tại Vị. Lưu ý bổ sung vào LT TTSĐ các quân Yêu Đỏ có số đếm là 10 để tạo sự công bằng có cái cho cả 5 ĐT.

    h-NHẤT YÊU NHỊ CỬU(có nơi nói là Nhì Cửu): việc sử dụng quân bài trong một số trường hợp. TT Chiếu quan niệm Quân Yêu và Quân Cửu có tính chất đặc biệt hơn các quân bài khác.

    -Bù Thừa Thiếu: khi lên bài trong TT Chiếu, có nhà Thừa quân sẽ trả lại quân Yêu Đen hay Quân Cửu cho làng.

    -Cho Bài Cái: TT Chiếu Bắt Cái bằng 2 con,thường sẽ cho Bài Cái quân Yêu Đen hoặc quân Cửu.

    -LT TTSĐ Bắt Cái bằng 1 quân, chia bài luôn đủ nên cũng không vận dụng Nhất Yêu Nhị Cửu thành qui định. Các ĐT vận dụng kinh nghiệm “Nhất Yêu Nhì Cửu” theo riêng bản thân.

    i-ĐÊM VĂN NGÀY VẠN: quan niệm về chất bài sử dụng khi đánh, khi chờ.

    -KHI ĐÁNH: nhiều vùng quan niệm, khi đánh ra quân đầu tiên,nếu được lựa chọn, Đêm đánh hàng Văn, Ngày đánh hàng Vạn.

    -KHI CHỜ Ù: nhiều vùng quan niệm, khi Chờ Ù, nếu được lựa chọn, Đêm chờ Ù quân hàng Văn, Ngày chờ Ù quân hàng Vạn.

    k-MỘT LY ÔNG CỤ: qui định chơi nghiêm khắc, chặt chẽ, ngặt nghèo trong một Chiếu Làng. Bởi Lệ Làng có khác biệt, nên “MỘT LY” này dài ngắn khác nhau(ví dụ 1 thước Tầu bằng 1/3 của 1 thước Việt Nam); “Ông Cụ” này cũng phong cách khác nhau(thời “a – còng”, 70 tuổi cặp kè hót –gơn thấy đầy). Do vậy, với TT SĐ, “Một Ly Ông Cụ” chỉ vận dụng tinh thần công bằng, nghiêm túc: “HẠ TỊCH BẤT HỒI”, loại trừ “TIỀN HẬU BẤT NHẤT”. Game là phần mềm tự động, nên TTSĐ đối với mọi nơi, mọi lúc đều là “Một Ly Ông Cụ”.

    l-MỘT THÀNH HAI CHỜ: qui định về điều kiện ĐT phải thực hiện khi ăn quân, đánh quân trước hai quân bài mở Nọc cuối cùng. Khi bị Đấm Yêu, Dậy Khàn được miễn trừ điều kiện Một Thành Hai Chờ.

    -MỘT THÀNH: khi còn MỘT QUÂN MỞ NỌC cuối cùng, ĐT muốn ăn một quân rồi đánh ra một quân khác phải có Bài Thành(hoặc Thập Thành). Nếu không đủ điều kiện MỘT THÀNH, ĐT đánh ra quân bài,là Quân Ù nhà khác chờ, ĐT sẽ phải đền ván Ù đó thay cả làng.

    -HAI CHỜ: khi còn HAI QUÂN MỞ NỌC cuối cùng, ĐT muốn ăn một quân rồi đánh ra một quân khác phải có Bài Chờ Ù(hoặc tốt hơn). Nếu không đủ điều kiện HAI CHỜ, ĐT đánh ra quân bài là Quân Ù nhà khác chờ, ĐT sẽ phải đền ván Ù đó thay cả làng.

    -LT TT SĐ chưa thực hiện được qui định hợp lý này, cần cố gắng Lập Trình trong thời gian tới. Các người chơi cũng lưu ý khi đang TEST thực nghiệm, thực hiện dần qui định MỘT THÀNH HAI CHỜ cho quen, có thể tham gia được TT Chiếu. Trong Bài Nọc, Quân Một Thành là quân bài số 6; Quân Hai Chờ là quân bài số 7.

    m-TIỀN ĐIỂM BINH, HÂU ĐIỂM BỐI(có nơi nói là KIỂM): là yêu cầu, là kinh nghiệm của các ĐT khi bắt đầu ván bài hay khi Chờ Ù, Xướng Ù.Điều kiện này liên quan chặt chẽ qui định “THỪA THIẾU, KHÔNG LƯNG PHẢI CHÈO ĐÒ”, là bắt Báo lỗi nặng.

    -TIỀN ĐIỂM BINH: đầu tiên là đếm bài mình có đủ quân.

    -HẬU ĐIỂM BỐI: sau khi Điểm Binh, xem bài có Lưng chưa.

    -TRong LT TTSĐ chia bài tự động, bao giờ cũng đủ Quân nên việc Điểm Binh đủ thiếu không cần. Có chăng xem còn Quân Rác ẩn náu, lẫn vào đâu thôi. Việc Điểm Bối vẫn phải nghiêm túc kiểm tra.

    n-BUÔN PHU: không ăn một quân đến trước,một phu có trước lại ăn một quân đến sau, thành phu có sau, bị làng bắt lỗi, bắt Báo.

    o-BẮT BÁO: bắt người chơi phạm lỗi bị phạt Báo, đền làng.

    -Tổ Tôm Chiếu tùy Lệ Làng có các mức phạt Báo khác nhau. Bắt Báo do ĐT khác trong cùng chiếu chơi thực hiện.

    -LT TTSĐ Bắt Báo tự động, mức phạt cũng nêu sẵn trong Luật TTSĐ.

    -Ý kiến riêng: sau nay Game lập trình sẽ do người chơi bắt báo. Bắt báo đúng, người bắt báo được người ù báo trả thêm nửa số điểm của ván bài báo. Bắt báo sai, người bắt báo phải trả thêm cho người ù đúng 1 dịch.

    p-YÊU HOÀN YÊU, BÍ HOÀN BÍ: cho các Quân Yêu về thành phu độc lập, cho các quân bài khác trở về phu bí của nó trong diễn biến Xoay Bài để Ăn Quân, Đánh Quân, Ù.

    -YÊU HOÀN YÊU: Quân Yêu ban đầu tổ hợp với quân bài khác thành phu bí, phu dọc(hoặc chỉ để ĂN ĐÓN) nay do diễn biến xoay bài còn đứng 1 mình, trở thành Phu tròn độc lập. Ví dụ ăn 1,2,3 văn; sau đó Xoay bài đưa 2 văn thành Bí Nhị, đưa 3 văn thành Bí Tam, còn độc lập 1 văn trên chiếu là Quân Trôi, Phu Tròn gọi là Yêu Hoàn Yêu. Nếu Hoàn Yêu trong Bất Thực Yêu cần xướng “Bất Thực Nhất Văn, Yêu Hoàn Yêu, ăn cả trả chén làng”.

    -BÍ HOÀN BÍ: quân thường A ban đầu(có 2,3,4 quân này) đã nằm trong phu bí A của nó lại tổ hợp với quân khác thành phu dọc(hoặc phu bí khác hoặc ĂN ĐÓN), sau đó xoay bài tất cả quân A đều trở về phu bí A. Ví dụ Bất Thực khàn Thất Văn, có phu bí Tôm(coi là phu A), có 789 văn, có phu bí Thất với 7 vạn, 7 sách. Xoay bài, 8 văn tạo thành Bí Bát; 9 văn tạo thành Bí Cửu vậy là trơ ra 1 con 7 văn; 7 vạn tạo thành dọc 567 vạn, 7 sách tạo thành 567 sách vậy là trơ ra thêm 1 con 7 văn. Khi Trả Chén Bất Thực trong ván hay khi Ù, hai con 7 văn bị trơ ra đó trở về Bí Tôm là hợp lệ, nhớ xướng “Bất Thực 7 văn,Bí Hoàn Bí, ăn cả trả chén làng” là được. Khi Bất Thực Khàn không có phu dọc, nhưng lại tạo ra hơn một phu bí, thì cũng không phải hô Bí Hoàn Bí.

    q- TỔ TÔM ĐIẾM,TỔ TÔM BÍ TỨ, TÀI BÀN, CHẮN có một số Từ, Thành Ngữ riêng, qui định riêng được dành cho phần Luật khác,lĩnh vực khác không nêu tại đây. Một số từ ngữ trong Tổ Tôm đi vào đời sống hoặc “Tên Lóng Quân Bài” cũng không cần giải thích như “GÀN BÁT SÁCH”, “THÂN CỬU VẠN”, “Ngôi Chùa”, “Con Cá”....

    Game Tổ Tôm có khác với Tổ Tôm Chiếu vì tính chất mạng Internet như Chia Bài, Bắt Cái, Mở Nọc Chờ Chi Nẩy, Phân Biệt Chén...

    r-LỆ LÀNG TRONG LT TTSĐ: TTSĐ lập ra Game bài lá dân gian, là tiếp thu tinh hoa cơ bản của các Lệ Làng, có bổ sung, hoàn thiện để thích hợp thời nay , phù hợp mạng Internet. Khi lập thành văn bản, công bố rồi đưa vào sân chơi, Sân Đình đã tạo ra LUẬT TỔ TÔM GAME BÀI LÁ DÂN GIAN đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam và văn hóa nhân loại.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 26/3/21
    Mod01 thích điều này.
  6. Ý KIẾN NHỎ VỀ VIỆC HẠ QUÂN KHI ĂN PHU

    25/1/2021


    1/Với Người Chơi:
    a-Lưu ý trước khi ăn, kiểm tra trên dưới cửa có cây đến rồi hoặc cây đánh đi làm mình mắc lỗi không.
    b-Hạ xong lưu ý xem có quân bài treo tranh không?
    c-Tổ Tôm chiếu, khi hạ có bốn trường hợp:
    -Hạ phu thông thường, ăn sao hạ vậy.
    -Hạ phu ẩn, không làm lộ bài mình (cước sắc, hướng đánh, khả năng ăn tiếp...).
    -Hạ thừa quân: hạ như vậy ở chỗ mình đều phạt, thừa một quân là vào 1 gà(gà này khi người nào ù Tứ Trụ sẽ được ăn).
    -Hạ sai, lộ ra cac lỗi “không ăn quân trước, ăn quân sau”, “Buôn Phu”, “Ăn một đánh hai”, “đánh phu dưới chiếu”...Do thế bài biến đổi, do cải phu chờ ù...có thể tìm cách Hạ Ẩn, Hạ Cài Phu khác để tránh các lỗi đó.

    d-Trong LT TTSĐ, hạ phu ăn, nếu liên quan đến các phu đã có trước dưới chiếu, hết sức thận trọng sau khi điều chuyển, không làm tròn tất cả các phu, bi mắc lỗi nặng “BẤT THÀNH PHU”, dù là mình ăn đúng, nhưng bị phạt do chưa hạ hoàn chỉnh. Lỗi này cả khi Ù cũng mắc.


    e-Hạ phu dọc có 4 quân trở lên, quân bài đầu hoặc cuối phu dọc là phỗng, thì lưu ý để quân đó trên tay để có thể phỗng được. Tuy vậy lai cần lưu ý, khi đánh quân đó đi, lại phải hạ nối vào phu dưới chiếu trước, không là báo.


    f-Hạ Phu nếu được tránh để lệ cước sắc, tránh để lộ nhiều đỏ, thậm chí lẩn vào Khàn Úp càng tốt, nhưng phải nhớ kẻo lại tự mình hại mình.


    g-Hạ quân thành phu khi Ù lại là cả một lô vấn đề khác nhé. Vẫn đặc biệt nhớ, cần làm tròn lại tất cả các phu nghi ngờ.


    h-HẠ PHU trong TTSĐ,lưu ý sử dụng thành thạo các NÚT BẤM (chỉ thị trên màn hình) như ĂN, HẠ LẠI PHÀI, CHỌN TỪNG CÂY, CHỌN CẢ PHU, PHỖNG, DẬY KHÀN, ĐÁNH kẻo nhầm, chậm.


    i-Trong Tổ Tôm Chiếu, nếu quên treo tranh, quên hạ quân trình bày “KHÔNG ĂN QUÂN NỌ, ĂN QUÂN KIA” có thể đánh quân bài đi xong, hạ thêm làng nể còn được. Trong LT TTSĐ, “HẠ TỊCH BẤT HỒI”, bạn đánh quân đi là Lập Trình đã tự động bắt lỗi ngay, không còn à ơi gì được, cho nên rất thận trọng.


    2-Với Mod lập trình:
    a-Mod nên có bài hướng dẫn các thao tác Kích Chuột cho các việc hạ quân ăn phu, nhất là các trường hợp khó.
    b-Hôm trước, Khàn mình úp, nhà trên đánh đúng quân úp khàn, lại vào phu dọc. Mình định “Tiền ăn phu, hậu dậy khàn” mà mãi không thao tác được. Mình đã có ý kiến việc này, không rõ phần mềm khắc phục thế nào.


    3-Bài viết này gửi Diễn Đàn Face TT Dân Gian 25/1, việc TIỀN ĂN PHU HẬU DẬY KHÀN đã được Mod Lập Trình làm ngon rồi nhé.

    -Ví dụ: Bạn có KHÀN 3 văn, Úp trên chiếu, lại còn lẻ 4,5 văn. Nhà trên đánh xuống 3 văn hoặc mở cửa trì 3 văn (lưu ý chỉ hai trường hợp này được TIỀN THỰC HẬU DẬY), ta nhấp chuột 4,5 văn ăn với 3 văn, thấy phu 3,4,5 văn dưới chiếu rồi nhấp Dậy Khàn là xong.
    Nguyễn Tiểu Thương

    Nguyễn Tiểu Thương[​IMG][​IMG][​IMG]
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 22/2/21
    Mod01 thích điều này.
  7. GÓP THÊM VÀI Ý NHỎ VỚI MOD, ĐỂ XEM XÉT:

    25/1/2021


    1/ Phạt lỗi Ù Không Phỗng chưa đúng: Khi Ù vào Phỗng nằm trong phu Bí, không cần tạo lưng, người Ù không cần hô “Ù Không PHỗng” vì Phỗng hay Không Phỗng không ảnh hưởng ván Ù(khi bài có Lưng rồi, không cần phỗng Tam Vạn). Ví dụ: có phu Bí Tam, có 2 Tam Vạn, bài thập thành lên Tam Vạn, Xướng Ù thì việc Phỗng hay Không Phỗng Tam Vạn không ảnh hưởng đến ván Ù. Qui định này, nhiều vùng vận dụng. Người ta chỉ hô “Ù không Phỗng” khi Phỗng làm mất Phu Dọc hoặc không tạo ra 2 bí khác nhau được.Ví dụ ván bài trên lại có phu 3,4,5 vạn hoặc có thêm Bí Tôm(thêm quân 3 sách, 7 văn).

    -Hiện nay LT TTSĐ còn đang yêu cầu các ĐT phải bấm phỗng, thành phu phỗng trên mặt chiếu rồi mới BÁO Ù, nếu không sẽ bị Ù LÀNH LÀNG. Vậy các bạn chơi lưu ý bấm phỗng trước để có điểm, nêu quên bị phạt cũng đừng bức xúc, coi như LỆ LÀNG của TTSĐ nha.


    2/ Còn nhiều trường hợp “Buôn Phu, ăn quân đến sau” không bị bắt Báo: ví dụ, có “Bí Ngũ + 4 văn, 6 văn, 4 vạn”. Đến 5 văn, ăn vào Bí Ngũ, đến 4 Sách, ăn Bí Tứ đánh 6 văn đi là sai. Vì ăn 5 văn, đánh 4 vạn đi là tròn bộ phu đó. Sau lại ăn 4 sách đánh 6 văn là “Buôn phu”(không ăn phu nọ, ăn phu kia), là “ăn quân đến sau, đánh quân đến trước” (con 6 văn trên tay, và mọi quân trên tay đều là quân đến trước).

    Nguyễn Tiểu Thương
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 22/2/21
    Mod01 thích điều này.
  8. CÓ VÀI Ý NHỎ TRAO ĐỔI VỚI CẢ NHÀ CÙNG MOD

    27/1/2021


    1/ Trong Lập Trình cần có phần “KHÓA PHỖNG RỒI, KHÀN DẬY RỒI, THIÊN KHAI DẬY RỒI”: đã Phỗng rồi, dậy Khàn hoặc dậy Thiên Khai rồi thì không tách được từng quân trong đó ra các phu khác nữa. Các quân bài khác muốn tổ hợp thành phu mới chỉ có thể để cạnh, để phía trên của nguyên bản PHỖNG, KHÀN hoặc THIÊN KHAI đó.


    2/ Lập Trình còn sót Cước Ù Xuyên Năm Gian, khi thực ra là không Xuyên Năm Gian. Nhà có 9 văn ăn với 1 vạn, 1 sách, lẻ 8 văn, 6 văn, 5 văn. Nọc lên 7 văn hô ù Xuyên Năm Gian, phần mềm công nhận và cho điểm là không đúng.Xuyên 4 cây phải là 4 cây chơ lơ chưa dính phu nào. Cho cả 2 cước Ù Xuyên.

    -Đặc biệt, với các cước XUYÊN thì Quân Rác bị XUYÊN không bao giờ là Quân Yêu.


    3/ DẬY KHÀN SỚM LÀ SAI: Với nhiều vùng, nếu Khàn không thuộc trường hợp phải Dậy trước, thì khi Ù (kể cả khi đang chơi) mà DẬY KHÀN TRƯỚC sẽ bị phạt Ù Lành Làng (nếu Ù). Do làm vậy lộ bài(khi đang chơi), hoặc DẬY KHÀN không đúng thứ tự sẽ hỏng bài. Dậy Khàn trong TỔ TÔM ĐIẾM được qui định khoa học chỉ với TIẾNG TRỐNG GÕ là vậy. Việc TRẢ CHÉN BẤT THỰC SỚM hoặc MUỘN cũng tương tự như vậy.


    4/ CHO ĂN QUÂN LỘ KHÀN: Mình thao tác ĂN MỘT QUÂN VÀO HAI KHÀN ÚP không được. Mình có khàn 7 vạn, khàn 7 sách, thấy đến 7 văn mình ăn, mà không ăn nổi. Ở vùng mình, được LỘ KHÀN, như trường hợp này, hoặc trường hợp phải cậy khàn lên ăn. Theo mình, Lập Trình TTSĐ (Tổ Tôm Sân Đình) đồng ý CHO ĂN LỘ KHÀN thì hay hơn.


    5/ LUẬT TỔ TÔM SÂN ĐÌNH như mọi bộ luật, cần được LẬP THÀNH VĂN BẢN + TRUYỀN THÔNG RỘNG RÃI. Lưu ý đặc biệt phần CÁC KHÁI NIỆM TRONG CHƠI TỔ TÔM + THỨ TỰ ƯU TIÊN CỦA CÁC ĐIỀU LUẬT.

    Nguyễn Tiểu Thương.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 22/2/21
    Mod01 thích điều này.
  9. VÀI Ý KIẾN ĐỂ MOD XEM XÉT LẬP TRÌNH TTSĐ
    1/ Hôm nay vẫn thấy LẬP TRÌNH TỔ TÔM SÂN ĐÌNH ( sau này viết tắt là LTTTSĐ) bắt lỗi ĂN HAI ĐÁNH HAI là không đúng.
    -Ví dụ: bài có Bí Tứ (4 vạn, 4 sách, 4 văn) và 3 văn, 5 văn. Ăn 6 văn rồi đánh đi 4 vạn, 4 sách bị LTTTSĐ bắt báo là bắt lỗi không đúng.
    2/ Vài thao tác khó, đề nghị MOD hướng dẫn cho BẠN CHƠI kích chuột. BẠN CHƠI làm đúng như ngoài đời mà mãi không được, hoặc hỏng bài:
    a-Bất Thực Thiên Khai, Bất Thực Khàn làm thế nào?
    b-Thiên Khai ăn Khàn trình Phu làm thế nào?
    c-Ăn lộ Khàn làm thế nào?
    d-Ù phu dọc(hoặc phu bí) dính vào Khàn thì làm thế nào?
    e-Việc TRẢ CHÉN cũng rất khó KÍCH CHUỘT đúng, MOD hướng dẫn nhé.
    f-Và các Thao Tác KÍCH CHUỘT KHÓ khác, đề nghi BẠN CHƠI đưa ra trong bài này để MOD giúp đỡ.
    3/Việc DẬY KHÀN không đúng thời điểm (thường DẬY KHÀN TRƯỚC) là lỗi chơi mọi nơi không chấp nhận được. MOD LT TTSĐ cho mọi trường hợp DẬY KHÀN TRƯỚC bị phạt Ù KHÔNG CÓ ĐIỂM (nếu Ù).
    4/ BÍ HOÀN BÍ là một thao tác nhiều vùng qui định khác nhau. Với nguyên tắc cao nhất CHƠI TỔ TÔM là hướng đến Ù, Ù LÀ : TRÒN BÀI + CÓ LƯNG: đề nghị LT TTSĐ chấp nhận BÍ HOÀN BÍ.
    -Ví dụ: Bất thực Khàn Tám Văn(có Bí Sườn: 2 sách, 2 vạn, 8 văn), ăn đón Bí Bát và dọc 7,8,9 văn. Hai mục ĂN ĐÓN đều không được, lúc ù hạ BÍ SƯỜN bị phạt Ù LÀNH LÀNH là không đúng. Tám Văn Bất Thực trở về Bí Sườn, Bài Tròn, Ù phải được tính điểm.
    5/ CUỐI CÙNG:
    a- LUẬT = THÀNH VĂN BẢN + TRUYỀN THÔNG (tức là có trao đổi công bằng, minh bạch). Cho nên ở TRANG TỔ TÔM SÂN ĐÌNH, mời MOD và các BẠN CHƠI CÓ Ý KIẾN, nếu không ai có ý kiến ngược lại, đề nghi MOD cho thông qua, sửa đổi LT TTSĐ.
    b- Đề nghị MOD cho hoàn thiện và công bố LUẬT CHƠI TỔ TÔM SÂN ĐÌNH để các BẠN CHƠI cùng góp ý và chơi được dễ hơn.

    Nguyễn Tiểu Thương.

    P/s: Bài viết được nửa tháng, các đề nghị mục 1, mục 2 (trừ 2F, mục 4) đều đã được Mod Lập trình xử lý tốt. Quả là tốc độ làm việc kinh hoàng, cảm ơn sự nhiệt tình đó.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 23/2/21
    Mod01 thích điều này.
  10. GỬI MOD LẬP TRÌNH TTSĐ
    Hôm nay có một bạn Bất Thực 8 sách, sau ù không có phu dọc, Bí Hoàn Bí lại bị báo. MOD xem giúp lại trong LT TTSĐ món Bất Thực, không ăn phu dọc, vẫn được Bí Hoàn Bí, ù bình thường. Hướng dẫn BẠN CHƠI thao tác KÍCH CHUỘT – TRẢ CHÉN nhé. Rất mong sự cố gắng của Tổ LT TTSĐ.
    P/S:Hình như BẠN CHƠI có PHU DỌC lúc Ù, vậy là LT TTSĐ đã sửa món này rồi đó.

    Nguyễn Tiểu Thương.
     
    Mod01 thích điều này.
  11. GÓP Ý THÊM ĐỂ MOD XEM XÉT
    1/ Hôm nay có một ván bài mình thấy cần xem xét:
    a-Nọc mở lên con 9 văn, nhà chéo(gọi là nhà A) không ăn 9 văn cửa trên, hạ ăn 9 văn bí 9 cửa dưới.
    b-LT TTSĐ báo nhà A đền. Nhà A đền 4 nhà lỗi nặng -12 x 4 = -48 điểm.
    c-Bài mình thập thành, lên 9 văn là Ù, đã bấm Ù mà không được. Mình chỉ Ù suông.
    d-Như vậy mình cũng không thiệt điểm, nhưng ở TT chiếu, nhà A sẽ phải đền cho nhà Ù (là mình) bằng đúng ván ù đó. MOD và mọi người cho ý kiến việc này, nếu là THI ĐẤU GIẢI, nhà mình sẽ thiệt về thứ tự, nhà A thiệt về điểm.
    2/ Khi Ù, KHÀN BẤT THỰC bị què 1 lá bài, lại tụ thành Khàn, LT TTSĐ không đọc được, cho Ù LÀNH LÀNG, với lỗi TRẢ CHÉN SAI.
    -Cụ thể : nhà A Bất thực 5 sách, ăn vào 5678 sách và 2,3,4,5 sách. Lúc Ù vẫn có 2 phu đủ 2,3,4 sách và 678 sách. Ba con 5 sách lại về một phu, vậy là sai. Bài đó còn thừa 1 lá 5 sách, Ù là báo lỗi nặng, không phải Ù LÀNH LÀNG.
    -Vậy phải có cả KHÓA BẤT THỰC để khi không có PHU DỌC, Khàn, Thiên Khai không thành LƯNG TRÙNG nữa.
    3/ Nhắc thêm lỗi DẬY KHÀN TRƯỚC vẫn chưa bị xử phạt Ù LÀNH LÀNG (Nếu Ù).
    4/ Có một ván bài, mình đánh thử kiểm tra LT TTSĐ:
    a-Dưới chiếu ăn 4,5,6 sách. Trên tay còn đôi 7 sách + 1 8 sách.
    b-Hiện con 7 sách, mình phỗng 7 sách đánh 8 sách, LT TTSĐ cho phép.
    -BẠN CHƠI tranh luận và không thống nhất, với cớ LỆ LÀNG.
    c-Ý kiến:
    -Nguyên tắc “PHẢI ĂN QUÂN ĐẾN TRƯỚC”, “NẾU ĂN QUÂN LÊN SAU” là bắt báo.
    -Như vậy, con 8 sách là con trên tay = “QUÂN ĐẾN TRƯỚC” sớm nhất, khi đã hiện phu, không thể ăn 7 sách là “QUÂN ĐẾN SAU” được.
    d-Rõ là BẠN CHƠI bảo đảm phỗng là ăn 1 đánh 1 cho tròn bài, nhưng lại vi phạm nguyên tắc “ĂN QUÂN ĐẾN SAU”, việc này nhờ cả nhà với MOD cho ý kiến để thống nhất nhé.
    "Bổ sung sau": Quân đến Trước là tạo ra "PHU CÓ TRƯỚC": ở đây là 6,7,8 sách có trước phu phỗng 3 con 7 sách.
    5-LỖI phạt Ù LÀNH LÀNG khi hô Ù KHÔNG PHỖNG trong trường hợp không BUỘC KHÔNG PHỖNG vẫn chưa sửa MOD à.
    6-Hôm nay có ván bài mình BẤT THỰC KHÀN NHẤT VĂN rồi bài biến đổi còn trơ ba con Nhất Văn. Mình Ù nhưng LT TTSĐ bắt lỗi BẤT THỰC TRÙNG TRỤC, không cho vận dụng YÊU HOÀN YÊU. ĐỀ nghị MOD với cả làng xem xét cho trường hợp này.
    Thời buổi MINI JUYP + HÀNG XUYÊN THẤU mà bắt lỗi BT TRÙNG TRỤC sợ các “a-còng” không đánh Tổ Tôm vì “kín cổng cao tường” quá.
    7-Hôm nay mình đã THIÊN KHAI ĂN KHÀN TRÌNH PHU thành công. BẠN CHƠI làm thế này nhé:
    a-Kích chuột vào THIÊN KHAI thấy nhô lên.
    b-Kích vào ô cao, bên phải “Thiên Khai ăn Khàn Trình PHu”.
    c-Chọn phu Trình, kích vào “Úp Khàn”, vậy là xong.
    Nguyễn Tiểu Thương.
     
  12. CHÚT GÓP Ý VỚI MOD LT TTSĐ
    1/ Hôm nay, mình chơi một “nước bài ẩn” và bị LT TTSĐ bắt báo. Ở TT chiếu thì không vậy.
    a-MÌnh có khàn 2 vạn úp xuống. Trên tay có cả 2 sách, 2 văn.Lưu ý là KHÔNG CÓ BÁT VĂN.
    b-Đến cửa mở 8 văn, mình ăn úp khàn với 2 sách(mục tiêu là ăn đón với 3 văn trên tay và tẩy Bạch Định).
    c-Sau đó phỗng 3 văn, đánh xén đi 2 văn Thập Thành Bạch định, đúng như tính toán, LT TTSĐ bắt báo.
    -Mình ăn úp khàn với 8 văn lộ, có thể là ăn với Bí Bát (với 8 vạn, 8 sách). Bài làng chưa có hiện cửa 8 vạn và 8 sách.
    -Do vậy LT TTSĐ kết luận là PHU ĂN LÀ BÍ SƯỜN để BẮT BÁO(nhị vạn, nhị sách, bát văn) là không đủ cơ sở.Đây là LẬP TRÌNH NHÒM TRỘM KHÀN của BẠN CHƠI.
    d- TT CHIẾU không bắt báo trường hơp này được, do ĂN KÍN.
    e- Vậy đề nghi MOD LT TTSĐ lưu ý PHU ĂN KÍN KHI BẮT BÁO cần đủ cơ sở thì ván bài hay hơn.
    2- LỖI ĂN CÂY BỎ SÓT KHÔNG BỊ BẮT BÁO:
    a-Ý kiến chung: lỗi khi ĂN CÂY, ĐÁNH QUÂN ĐI + LỖI KHI Ù là 2 loại lỗi khó nhất trong Tổ Tôm, kể cả ở Tổ Tôm Chiếu.
    b-Góp ý nhỏ: nguyên tắc khi bắt LỖI ĂN CÂY, vướng vào ĂN MỘT ĐÁNH HAI, BUÔN PHU (không ăn cây đến trước, ăn cây đến sau) MOD lưu tâm LẬP TRÌNH với những QUÂN BÀI HIỆN TRÊN CHIẾU.
    -Có thể do BẠN CHƠI hạ sót, có thể do diễn biến ván bài, nên BẠN CHƠI mắc lỗi.
    -QUÂN BÀI HIỆN TRÊN CHIẾU hai bên cửa của BẠN CHƠI liên tục được LẬP TRÌNH vào phu giả định, để BẮT LỖI ĐÚNG.
    c-Phần GÓP Ý này, còn lâu dài, và hoàn toàn không thuộc về KỸ THUÂT LẬP TRÌNH MẠNG nhé. Món LẬP TRÌNH, “một chữ bẻ đôi” tớ không biết đâu.

    Nguyễn Tiểu Thương
     
    Mod01 thích điều này.
  13. TRAO ĐỔI Ý KIẾN VỚI MOD + CẢ NHÀ
    1/ Bài Thiên Ù, nếu LÁ BÀI BẮT CÁI rơi vào trường hợp Chi Nảy(bắt cái Chi, què trơ Cửu vạn, Bát sách), Xuyên, Bạch Thủ thì có nên cho hô các cước đó không? Nếu cho, mà không hô, có bị phạt không? Như trường hợp Bạch Thủ của Chắn, hay Ù Không Phỗng của Tổ Tôm.
    -Ở trường hợp này, LÁ BÀI BẮT CÁI là LÁ BÀI Ù(lá cuối cùng BẠN CHƠI nhận được từ làng để Thiên Ù).
    2/ Có một ván bài, BẠN CHƠI có 2 lá 4 sách, 2 lá 6 sách, đến 5 sách ăn 1 phu “4,5,6 sách”. Đánh đi 1 con 6 sách. Vòng sau ăn một phu khác, đánh tiếp 1 con 4 sách. Đánh vậy là đúng nhưng LT TTSĐ bắt báo. Lưu ý không hiện phỗng 4,6 sách trước đó mà tranh cãi.
    -Nhờ MOD LẬP TRÌNH xem xét lai có đúng vậy không thì điều chỉnh nhé.
    3/ Bổ sung vào LT TTSĐ Luật “MỘT THÀNH HAI CHỜ”: nếu ăn các quân cuối cùng này, đánh quân ra làng Ù, là phải đền ván bài đó cho người ù thay cả làng. Điều kiện được phép ăn là “MỘT THÀNH HAI CHỜ”:
    a-Điều kiện “HAI CHỜ”:Trong Tổ Tôm chiếu ở mọi vùng, khi Nọc chỉ còn được mở 2 cây phải lưu ý khi ăn. Tương ứng trong LT TTSĐ là khi mở quân Số 7 (chỉ thị số trên đĩa Nọc), BẠN CHƠI phải được CHỜ(theo khái niệm đúng của CHỜ trong TTSĐ) mới được phép ăn đánh đi. Nếu chưa CHỜ, đánh quân đi Làng Ù đúng quân đó là phải đền. Nhiều vùng ngặt hơn, bất kỳ quân nào sau đó LÀNG Ù, đều phải đền. LT TTSĐ chỉ vận dụng ĐỀN nếu ù đúng quân đánh ra thôi.
    b-Điều kiện “MỘT THÀNH”: khi Nọc chỉ còn được mở cây cuối cùng, tương ứng trong LT TTSĐ là lá bài số 6 trên đĩa nọc, muốn ăn phải đáp ứng điều kiện bài ít nhất THÀNH(theo đúng khái niệm THÀNH trong TTSĐ: là bài tròn, chưa có lưng). Bài THẬP THÀNH thì vượt tiêu chuẩn rồi. Nếu chưa đáp ứng điều kiện “MỘT THÀNH”, đánh ra làng Ù quân đó, phải đền ván bài người Ù thay cho cả làng. Nhiều vùng ngặt hơn “MỘT thành” phải là bài THẬP THÀNH hoặc đền bất kỳ quân nào sau đó LÀNG Ù. LT TTSĐ chỉ nên áp dụng điều kiện nhẹ nhất.
    c-NƯỚC BÀI HÒA: trong “TỔ TÔM BÍ PHÁP” có một chiêu “BÍ ĐIỂN”, chỉ truyền nôi bộ là “CẦU HÒA”. Như đạo lý “CẦU HÒA” lớn nhất trong cuộc đời, chiêu “CẦU HÒA” trong “TỔ TÔM BÍ PHÁP” cũng là “ĐẠI KHỦNG CHIÊU”. Các quái thủ Tổ Tôm, đầu ván rất nhanh đánh giá tình huống bài của mình, của nhà dưới, của làng để điều bài“CẦU HÒA” hoặc “Ù SUÔNG”. Do vậy những cây cuối cùng được xem xét sát sao, ngặt nghèo.
    -P/S mục này: là Tiểu Thương nghe lóm, chứ trình độ “Chim Cánh Cụt” của mình, thấp hơn cả “Vịt Tào”, “Bò Đèn” toàn ngồi bệt, cũng chưa dụng được chiêu “CẦU HÒA” đâu.
    d-Trong thực chiến, do mải đánh quên kiểm cây, do đánh ẩu, hoặc chơi kiểu “Được Ăn thua chịu”, BẠN CHƠI rất hay mắc vào luật này.
    e- LT TTSĐ hai nước bài cuối, cũng chưa khó bằng “BẮT LỖI KHI ĂN –ĐÁNH” hoặc khi Ù, nên chắc chắn các MOD sẽ thực hiện được. Vì bắt lỗi này, bảo đảm các ĐẤU THỦ trình độ nhanh chóng cao vòi vọi và mới gần với LUẬT TỔ TÔM CHIẾU.
    -Nhân thể ở CHẮN, ta gọi CHẮN THỦ; Ở phỏm, ta gọi PHỎM THỦ vậy ở TỔ TÔM, có thể gọi là ĐẤU THỦ được không, các cụ cho ý kiến nhé. Chứ gọi TỔ THỦ nghe kinh hoàng quá nhỉ!
    4/VẤN ĐỀ CHIA BÀI, BẮT CÁI, XẾP BÀI TRONG LT TTSĐ:
    a-Chia bài: như vậy là ổn rồi, chỉ có bài chia trong LT TTSĐ do xáo đều, đẹp gấp 3,9 lần trong TỔ TÔM CHIẾU.
    b-Bắt cái: trong mạng ảo, bắt cái 1 quân là hợp lý, không ảnh hưởng ván bài. Nhưng người bắt cái ở các ván thông chỉ là người dưới cánh NGƯỜI Ù là khác TT chiếu. Khi thông, hòa liên tiếp, ở TT chiếu người bắt cái chuyển theo vòng đánh. Tuy vậy, việc này không ảnh hưởng ván bài, nên LT TTSĐ giữ nguyên cũng được.
    c-Xếp bài: xếp bài tự động của LT TTSĐ khác với đời thực: ưu tiên thứ tự phu dọc hơn phu bí(phu ngang). Các ưu tiên khác đúng rồi, chỉ ưu tiên phu dọc xếp trước là hơi nghịch với “lô gich Tổ Tôm”.
    d-BẠN CHƠI chưa quen LT TTSĐ chỉ cần kích chuột “XẾP BÀI”, kiểm nhanh có mấy Khàn, Thiên Khai thì úp đủ hoặc bất thực đủ, rồi bấm XẾP XONG. Sau đó có thời gian điều chỉnh thêm, chỉ nhớ phỗng, khàn là được. THIÊN KHAI nếu úp thì TỰ ĐỘNG DẬY KHI ĐỘNG NỌC rồi.Vậy mà mình cũng liên tục quên Úp Khàn, mắt nhập nhòe rồi.
    5/LUẬT PHẢI PHỖNG TRƯỚC LÚC Ù TRONG TTSĐ: BẠN CHƠI lưu ý khi Ù vào lá bài có phỗng, và phỗng được là phải phỗng trước mới nhấn nút Ù không là Ù LÀNH LÀNG. Điều ngày khác TỔ TÔM CHIẾU nhưng chấp nhận được, BẠN CHƠI cần lưu ý, coi như LỆ LÀNG CỦA TỔ TÔM SÂN ĐÌNH nhé.
    6/ Xây dựng LUẬT PHẠT KHÔNG CHO PHỖNG KHI LỘ QUÂN BÀI DƯỚI CHIẾU và khuyến nghị bạn chơi KHÔNG ĂN LỘ QUÂN:
    a- Khi ăn quân trên mặt chiếu, bất kỳ quân nào đã có hai lá giống nhau đã lộ trên mặt bài của BẠN CHƠI, bạn chơi không được phỗng nữa. Trừ khi nếu lá bài đó nằm trong Khàn Bất Thực, lại có phu Bí, thì được phỗng vào phu bí đó.Trong trường hơp quên hạ, treo tranh trên tay cũng vậy.
    -Ví dụ: nếu bạn có 3 con 3 vạn và bất thực, khi trên chiếu có phu dọc 3,4,5 vạn và phu bí 3 vạn, 3 sách, 3 văn thì hiện lên 3 vạn bạn được Phỗng Tái Kiến. Nếu bạn có 2 lá bài 3 vạn chỉ có 1 phu bí 3 vạn, 3 sách, 3 văn khi hạ ăn 3 văn hay 3 sách của làng, mà hạ cả 2 con 3 vạn vào Bí Tam, thì khi hiện lên 3 vạn khác, bạn không được phỗng nữa. LT TTSĐ hôm trước mình thấy có bạn phỗng được, vậy là sai.
    b-Khuyến nghị bạn chơi ăn quân thành phu không để lộ: tốt nhất, để số quân tối thiểu buộc phải hạ thành phu. Trong Tổ Tôm chiếu, nó thể hiện trình độ cao thấp của BẠN CHƠI. Trong Tổ Tôm SĐ, nhiều bạn được nhắc vẫn hạ lộ tràn lan, nhiều trường hợp vì vậy mà bị báo. Mặt khác, làm lộ bài làng, nhiều BẠN CHƠI khác trong bàn không đồng ý.
    7/-Ngày 3/2/2021, từ 10h đến 17 giờ, trong CHƯƠNG TRÌNH TESTDAY TỔ TÔM, mời các cụ chuẩn bị sẵn thắc mắc vào bàn hỏi đáp ạ.
    Nguyễn Tiểu Thương.
     
    Mod01 thích điều này.
  14. CHỦ NHẬT NÓI CHUYỆN CHI NẨY
    1/ Chuyện trưa nay: hôm nay đỏ quá, bàn Test Tổ Tôm 2, quãng 11 h, chơi non tiếng mà gần 200 điểm. Vợ gọi cơm, ván cuối, còn 4 người, lại ù Chi Nẩy. Do bất thực 8 sách, có phu dọc sẵn 6,7,8,9 sách phải hô sai là Bí Hoàn Bí để không ăn điểm, tránh bức xúc mấy cụ đang chơi, đâu ngờ lại Báo đền Chi Nảy (-24 x 3= -72 điểm). Oan quá Bao Tổ Tôm ơi!
    a-Bài mình ban đầu có Khàn 8 sách, đôi 9 vạn, đôi 6 sách, một 7 sách, một 9 sách, một 8 văn,không lưng.Mình bất thực 8 sách, trôi phu dọc 6,7,8,9 sách(lẻ ra 2 quân 8 sách nhưng trôi đi 6,7,9 sách;đây là ăn 3 đánh 2). So với chờ Ù, trôi được thêm đôi 9 vạn (là ăn 5 đánh 2). Sau đó mình ăn thêm được một con 7 sách, thành phu 6,7,8 sách nữa, đánh đi 8 văn rồi chờ chi. Lên Chi hô Chi Nẩy và bị báo. Kiểm tra kỹ không có nước nào vào thành cả.
    b-Vấn đề thứ nhất đặt ra, không hiểu sao Lập Trình bắt báo mình được? Món này đề nghị Mod với anh em giải thích giùm.
    -Nếu có qui định cấm bất thực 8 sách, 9 vạn (là bất thực lợi quân, không phải ăn đón nhé) hoặc vi phạm qui định “buộc vào thành” để chờ Chi Nẩy thì tâm phục, đây lại...? Não!!!
    c-Vấn đề thứ hai, nếu không bất thực 8 sách, không lẽ đánh đi cả 6,7,9 sách?
    2/ Ý kiến về chờ Chi Nẩy trong Tổ Tôm Sân Đình: đề nghị chấp nhận bất thực 8 sách, 9 vạn để chờ Chi Nẩy. Điều kiện là buộc phải có sẵn 1 phu dọc (ít nhất 2 quân rác trôi theo dọc để ăn 2 đánh 2). Như vậy lên lên Chi vẫn được tính Chi Nẩy.
    3/ Ý kiến về “Buộc Vào Thành” với Chi Nẩy:
    a-Theo mình đề nghị ở phần bài viết đã trao đổi trước đây, TTSĐ không nên “Buộc Vào Thành” với Bạch Định và Chi Nẩy. Vì mấy lý do đã nêu:
    -Ưu tiên ù to, “được ăn thua chịu”.
    -Trong cuộc bài, nêu cao tinh thần tự do, dân chủ, đừng “buộc ...này, buộc...nọ” càng hay.
    -Bất hợp lý, không công bằng, không nhất quán về luật khi Kính Cụ, Thập Điều (kém Bạch Định có 1 dịch; kém Chi Nẩy có 2 dịch) hoặc Kính Tứ Cố(gấp đôi Chi Nẩy) lại không “buộc vào thành”.
    b-Nếu có dị luật này, TTSĐ có cơ sở vững chắc để trả lời các “Lệ Làng” khác.
    4-Kết luận: nếu không “buộc vào thành”, nếu chấp nhận “bất thực đúng” hoặc không đồng ý đề nghị Mod và anh em trao đổi nhé. Nếu là một “dị luật TTSĐ” thì cũng công bố lại rõ cho bạn chơi biết trước.
    P/S: Trong “Test Game Tổ Tôm”, phần “Hướng Dẫn”, mục “Cước Ù” đã có khoản “Lưu Ý” về việc này ở thí dụ đôi con 9 vạn (có 1 con đi dọc 6,7,8,9 vạn) và 1 con 8 sách chơ lơ thì chỉ được Ù Chi Lèo. Mình Ù ván này, đưa ra diễn đàn TTDG để trao đổi với cả nhà, rộng đường dư luận.
    Nguyễn Tiểu Thương

    DIỄN ĐÀN TỔ TÔM DÂN GIAN: FACEBOOK
     
    Mod01, Hà_Nội_Mùa_Thu_VàngThành Nam SĐ thích điều này.
  15. CUỐI TUẦN NÓI TIẾP CHUYỆN Ù

    “Thảm án Chi Nẩy” tuần trước kể, rốt cuộc dở dang.Hệ lụy “chữ tượng hình” còn dẻo dai đeo đẳng đến lúc nào? Trảm rồi,tự an ủi như một thằng cu Tàu nói: “Hai mươi năm sau sẽ có một anh hùng...”. Úp lại, bàn sang chuyện khác, vui hơn. Chuyện Ù.

    Như cuộc đời, mọi ván bài đều mong được Ù. Ở tột cùng của sự sung sướng ấy, người ta dễ đánh mất mình, thoáng qua sơ sẩy, mang đến nuối tiếc khôn nguôi. Thương người “phải gió trên lưng ngựa”, hôm nay Tiểu Thương kể với các bạn chuyện các cụ tránh bị PP lúc sướng, à quên là Xướng. Sách xưa gọi là “năm bước để sướng”.

    1-Bước 1: CHỜ Ù:

    a-Kiểm tra lại các phu nên tròn trặn, tối ưu .

    b-Soi lại lưng lối phải ngon lành.

    c-Dự tính các “Tiếng Ù”, mười tám cách hay chỉ một kiểu. Liệu trước việc “Chạm yêu đánh gì?”.

    d-Xếp bài: nhiều người thích kiểu “tranh tối, tranh sáng”, mình ưa lối tường minh. Công thức là: Yêu đầu tiên + Phu có Yêu + Phu có lưng + Phu bí + phu dọc + Cạ(hay quân) Chờ Ù với ưu tiên từ nhỏ đến lớn, nhiều đến ít. Cách xếp bài đã góp ý MOD, nhưng lập trình TTSĐ còn chưa điều chỉnh.

    2-Bước 2: BÁO Ù:

    a- Ở trên chiếu: các cụ còn hô phỗng hay nói nhờ, để kiểm tra nhanh rồi mới báo Ù.

    b- Ở trong mạng: bạn chỉ nhấp chuột là Báo Ù đó nên càng phải cẩn thận. Lưu ý khi quân Ù lại thuộc phỗng, khàn, thiên khai hay đã đánh đi.

    3-Bước 3: HẠ Ù.

    a-Hạ dần từng phu hoàn chỉnh, theo thứ tự phải qua trái. Cạ chờ Ù nên hạ cuối. Lưu ý có khàn úp thì dậy sau cùng.

    b-Thời gian có hạn, nên phải chuẩn bị hạ nhanh mà chính xác. Có phu nào thấy lạ, nhấp vào “hạ bài lại”, tránh lỗi bất thành phu.

    4-Bước 4: HÔ Ù.

    a-Với ván bài cần HÔ các điều kiện về phỗng, khàn, thiên khai, bất thực, trả chén hay ăn đánh khác phải suy nghĩ từ trước để không thiếu, sai.

    b-Ván bài thông thường: HÔ Ù nhập vào luôn bước 5 là Xướng Ù.

    5-Bước 5: XƯỚNG Ù(thực tế là Xướng cước sắc của Ván Ù).

    a-Xướng thiếu cước sắc: mình thiệt thòi thôi.

    b-Xướng thừa: đền là cái chắc, đó là bị PP.

    c-Xướng chậm: đồng hồ báo hết giờ, thế là treo niêu.


    Vậy đó, cho nên người xưa nói “nghề chơi cũng lắm công phu”, chỉ việc sung sướng đã là cả một nghệ thuật. Rảnh rang cuối tuần, dăm câu ba điều buôn với bạn chơi, thật mong nhận được hồi âm.

    Nguyễn Tiểu Thương.
     
  16. GỬI MOD VỚI BẠN CHƠI
    Hôm nay tham gia Test Game TTSĐ buổi tối có mấy vấn đề trao đổi với Mod với bạn chơi:
    1/ LẬP TRÌNH vẫn duy trì “DỊ LUẬT” bắt lỗi không ăn cây nọ, ăn cây kia rất khác với TT chiếu: bạn chơi có 345 văn(đã hạ phu dưới chiếu), cây 2 văn cửa trên không ăn, ăn cây 6 văn cửa trì. Luật này khiến tất cả bạn chơi TT đời trước mắc, đề nghị Mod LT xem xét sửa đổi.
    2/ Các Lệ Làng đều chỉ cho Phỗng Tái Kiến khi có Phu Dọc đồng thời hiện trên mặt chiếu. LT cho phỗng tái kiến khi hạ cùng phu bí xuống đã là khác tất cả các Lệ Làng, nay lại có cụ Phỗng Tái Kiến không có phu nào hạ xuống theo mà không bị bắt báo.Đó là lỗi Bất Thực Trùng Trục chính hiệu. Điểm này đề nghị Mod LT xem xét.
    3/ Câu hỏi chờ Chi Nẩy hôm trước, Mod có trả lời trường hợp trong hướng dẫn, 1 cây 9 vạn(không ví dụ gì về 8 sách) nằm trong dọc 789 vạn, thì còn 1 cây 9 vạn chơ lơ nữa cùng 8 sách rác, chỉ được ù Chi Lèo. Chi Nẩy là một Tiếng Ù được lưu tâm ở nhiều vùng, theo mình biết, không có Lệ Làng nào có Dị Luật như vậy. Vậy cũng mong các Mod xem xét và điều chỉnh Dị Luật này.
    4-Cước Ù Bạch Thủ:
    a-TTSĐ qui định: “Bài đang chờ duy nhất 1 nước phỗng để Ù”: thí dụ, có 2345 văn, lẻ thêm 1 quân 2 văn(là phỗng 2 văn) bài chưa có lưng, chỉ phỗng 2 văn là tròn bài và có lưng, thì được cước Bạch Thủ 2 văn. Như vậy kể cả có phu dọc 2345 sách thì 2 vạn lên cũng không ù được, cho nên đây là cước Bạch Thủ mà TTSĐ qui định.
    -Điều Luật này của TTSĐ nằm trong phần “Hướng Dẫn” của Test Game.
    b-TT Chiếu nhiều vùng qui định: ngoài điều kiện “duy nhất 1 nước phỗng để Ù” còn có điều kiện “lẻ ra cả 2 quân phỗng”, tức là chưa có quân nào trong phỗng bấu vào phu dọc như 2 văn ở ví dụ trên.
    c-Kết luận: vấn đề này bạn chơi phải lưu ý, vì cước Bạch Thủ chỉ bằng Tôm, cho nên ý kiến riêng mình là Luật Game TTSĐ qui định hợp lý.
    Rất mong các bạn chơi có ý kiến để rộng đường dư luận, các Mod có cơ sở xem xét.
    Nguyễn Tiểu Thương.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 9/3/21
  17. BÀI 11: TỪ VÀ THÀNH NGỮ CHƠI TỔ TÔM THẾ KỶ 20

    TỪ VIẾT TẮT:

    -TT: Tổ Tôm.

    -ĐT: đấu thủ(tức người chơi Tổ Tôm).

    -TTSĐ: Tổ Tôm Sân Đình, chơi trên Internet.

    -LT TTSĐ: Lập Trình TTSĐ.

    -TT5: Tổ Tôm Bí Ngũ.

    1- TỔ TÔM: tên gọi cỗ bài lá hiện chỉ có người Việt Nam chơi.

    a-Tên Gọi: Từ Tổ Tôm các cụ suy đoán là biến thể từ Hán-Việt “tụ tam”. “Tụ Tam” là tổ hợp nhỏ nhất(gọi là 1 phu bài) gồm 3 quân bài.

    b-Nguồn gốc: Theo tiền nhân, Tổ Tôm được người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ chơi cách đây 300 năm.Từ hình vẽ có trang phục mang phong cách người Nhật và chữ viết là chữ Hán cách điệu, tiền nhân không xác định rõ nguồn gốc xuất xứ của trò chơi này. Tuy vậy, biết rằng lúc đó người Kinh chỉ thạo dùng chữ Hán và hiện nay còn mỗi người Việt chơi, nên có thể khẳng định Tổ Tôm có xuất xứ Việt Nam.Tài liệu của người Nhật, người Hoa cũng không xác nhận Tổ Tôm là trò chơi của họ.

    c-Kết luận: Tổ Tôm là trò chơi của người Việt và nay chỉ được người Việt Nam chơi. Do vậy nó là một tài sản “Văn Hóa Phi Vật Thể” của người Việt mà chúng ta phải gìn giữ, lưu truyền.


    2-BỘ BÀI TỔ TÔM: gồm có 120 lá bài. Cứ bốn lá bài giống hệt nhau, tạo ra một quân bài được phân biệt bởi số và chất.

    a-Có 9 hàng số 1,2,3,4,5,6,7,8,9(nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu). Thực ra có ba Quân Yêu Đỏ: Chi Chi, Ông Cụ, Thang Thang có thể coi là hàng số 10, dùng làm số đếm khi bắt cái đầu hội.

    b-Có 3 hàng chất Văn, Vạn, Sách.

    c- Ngoài ra có 3 quân đặc biệt, hay gọi là Yêu Đỏ: Chi Chi, Thang Thang, Ông Cụ.

    d-Bạn hãy mua một Bộ Bài Tổ Tôm để tìm hiểu, nhận biết 120 lá bài này.


    3-CHƠI TỔ TÔM: Bộ Bài Tổ Tôm dùng để chơi bốn trò: Tổ Tôm Bí Ngũ, Tổ Tôm Bí Tứ, Tài Bàn(chính là Tổ Tôm Bí Tam) và Chắn(chỉ dùng 100 quân, bớt đi 3 quân Yêu Đen: Nhất Văn, Nhất Vạn, Nhất Sách và 2 quân Yêu Đỏ: Thang Thang, Ông Cụ).Chơi Tổ Tôm cần có 1 bộ bài, đĩa đựng Nọc, 3 cái Chén Bất Thực.

    a-TỔ TÔM BÍ NGŨ: 120 lá bài chia đều thành 6 phần, mỗi phần 20 lá bài. Một phần để vào đĩa làm Nọc, bớt đi một lá bài ở Nọc vào Bài Cái cho người có cái.SÂN ĐÌNH đang làm phần mềm cho Tổ Tôm Bí Ngũ(Ngũ được hiểu là có 5 phần bài dành cho người chơi).Bài viết này cũng chỉ tập trung trao đổi về trò chơi Tổ Tôm Bí Ngũ, sau đây viết tắt là TT5. Bài Ù Bí Ngũ: điều kiện là tròn bài và tổi thiếu có 1 Lưng.

    b-TỔ TÔM BÍ TỨ(TT4): 120 lá bài chia đều thành 5 phần, mỗi phần 24 lá bài. Một phần để làm Nọc cũng bớt 1 lá vào Bài Cái cho người có cái. Bí Tứ được hiểu là có 4 phần bài dành cho người chơi và 1 phần Nọc. Bài Ù Bí Tứ: điều kiện là tròn bài và tối thiểu có 2 Lưng.

    c-TÀI BÀN(có thể gọi là Tổ Tôm Bí Tam là TT3): 120 lá bài chia đều thành 4 phần, mỗi phần 30 lá bài. Một phần để làm Nọc cũng bớt 1 lá vào Bài Cái cho người có cái.Tài bàn Ù: điều kiện là tròn bài và tối thiểu có 9 Lưng.

    -TT3 phân biệt với trò chơi Tổ Tôm khác ở chỗ: có 3 người chơi,Ù cần nhiều lưng hơn, số lưng tính khác có Lưng Ghép và đánh được cả phu đi.

    d-CHẮN: 100 lá bài chia đều làm 5 phần, mỗi phần 20 lá bài. Mỗi phần bớt 1 lá để vào đĩa Nọc. Một phần để làm Nọc, bớt ra 1 lá vào Bài Cái cho người có cái. Vậy nhà cái có 20 lá bài, 3 nhà khác có 19 lá bài, Nọc có 23 lá bài. Chắn Ù: điều kiện là tròn bài và tối thiểu có 6 chắn.

    -Một số vùng chơi cả Chắn Bí Ngũ(năm phần chơi, dùng cả 120 quân bài).

    d-ĐẤU THỦ: người chơi Tổ Tôm ta gọi là Đấu Thủ (sau đây viết tắt là ĐT). Nếu đủ chân, TT5 sẽ có 5 ĐT, Bí Tứ sẽ có 4 ĐT, Tài Bàn sẽ có 3 ĐT, Chắn sẽ có 4 ĐT.

    -Người xưa còn gọi ĐT bằng các tên khác: CHÂN ,TAY, CỬA, NHÀ...

    - Nhiều vùng gọi chung các ĐT tham gia ván bài là “LÀNG”, nên hay dùng từ “TRÌNH LÀNG”, “CHIẾU LÀNG”, “XIN LÀNG”, “LỆ LÀNG”, “HỎI LÀNG”...

    -P/S: hay TT SĐ gọi các người chơi Tổ Tôm là TỔ THỦ cho oai.


    4-Ù:

    a-TT5 Ù khi bảo đảm 2 điều kiện: TRÒN BÀI + CÓ LƯNG +QUÂN Ù.

    b-Đấu Thủ trong chiếu TT(sau đây viết tắt là ĐT) Ù với 1 lá bài khi có ĐT khác đánh ra hoặc mở nọc.

    c-Có hai trường hợp đặc biệt là THIÊN Ù hoặc Ù với thiên khai khi động nọc.

    d-Ù là nước bài đặc biệt. Khi Ù người ta không hồi tố với các nước bài trước đó.


    5- TRÒN BÀI: như mọi trò chơi bài lá khác, người ta sắp xếp các lá bài thành các tổ hợp, trong TT gọi là Phu. Khi bài của ĐT không còn quân rác(mọi lá bài đều nằm trong phu) thì gọi là TRÒN BÀI.
     
  18. 6-PHU BÀI: khi chơi Tổ Tôm, các ĐT sắp xếp lá bài khi ăn , khi đánh thành các PHU BÀI: có 4 loại Phu Bài.

    a-PHU BÍ: là tổ hợp ít nhất 3 lá bài khác hàng chất, cùng hàng số. Ví dụ: 3 văn + 3 vạn + 3 sách.

    -Theo lối chơi mới của Sân Đình, Phu Bí tối đa có tới 12 lá bài: 4 lá 3 văn + 4 lá 3 vạn + 4 lá 3 sách.

    b-PHU DỌC: là tổ hợp ít nhất ba lá bài cùng hàng chất, hàng số liên tiếp nhau. Ví dụ: 3 văn + 4 văn + 5 văn.

    -Phu Dọc tối đa có tới 9 lá bài liên tiếp. Ví dụ: 1 văn...2,3,4,5,6,7,8,9 văn.

    c-PHU YÊU: bất kỳ quân Yêu nào, dù đứng một mình, cũng được coi là 1 Phu, không phải Quân Rác.

    -Sáu Quân Yêu: 1 văn, 1 vạn, 1 sách, chi chi, thang thang, ông cụ.

    d-PHU LƯNG: Tổ Tôm khi Ù ngoài điều kiện tròn bài, còn phải có Lưng. Có chín tổ hợp Phu là Lưng khi chơi Tổ Tôm:

    -Lưng Tôm: Tổ hợp 7 văn + 3 vạn + 3 sách.

    -Lưng Lèo: Tổ hợp chi chi + 9 vạn + 8 sách.

    -Lưng Sườn(từ xưa các cụ gọi là Bí Sườn): 8 văn + 2 vạn + 2 sách.

    - Lưng Yêu Đỏ 1: thang thang + 9 vạn + 9 sách(Lưng yêu Đỏ Đơn).

    -Lưng Yêu Đỏ 2: thang thang + ông cụ + 9 sách(Lưng Yêu Đỏ Kép).

    -Lưng Yêu Đen 1: 1 văn + 2 văn + 3 văn(Lưng Yêu Đen Đơn).

    -Lưng Yêu Đen 2: 9 Văn + 1 Vạn +1 Sách(Lưng Yêu Đen Kép).


    -Lưng Trùng Tam: Phỗng (ăn Phỗng được trong ván chơi) + Khàn: là Phu gồm 3 quân giống hệt nhau: như phỗng 3 văn, hoặc Khàn 3 văn Úp.

    -Lưng Trùng Tứ: Khàn Dậy(ăn được trong ván chơi) + Thiên Khai: là Phu gồm 4 quân giống hệt nhau như Khàn 3 văn dậy hoặc Thiên Khai 3 văn Úp.

    -P/S: khi chơi Tài Bàn, còn có các LƯNG GHÉP, LƯNG TÀI ta không đề cập ở đây.

    e-PHU TRÒN: thực ra chính là PHU BÀI hoàn chỉnh; một tổ hợp tối thiểu 3 quân bài: “TỤ TAM TỬ ĐẮC THÀNH NHẤT PHU”.

    f-PHU TRÊN TAY: các PHU có trên tay kể cả Yêu, làng chỉ biết khi HẠ Ù. Khi cần thiết, ĐT có thể đánh xén quân bài trong Phu Trên Tay.

    g-PHU DƯỚI CHIẾU: các PHU ĐT trình với làng dưới chiếu, kể cả Yêu. Khàn Úp hay Thiên Khai Úp để dưới chiếu nhưng kín với làng, vẫn thuộc Phu TRên Tay. Đánh quân bài thuộc Phu Dưới Chiếu hoặc xếp bài BẤT THÀNH PHU dưới chiếu sẽ bị Báo.


    7-QUÂN BÀI: ta gọi Quân Bài thay cho LÁ BÀI, CÂY BÀI cho quen thuộc.

    a-QUÂN TRÔI: là Quân Trong Phu gồm có 3 loại

    - Quân Trôi trong Phu Trên Tay: các tổ hợp Phu tròn trên tay. Có thể đánh xén Quân Trôi trong Phu Trên Tay vào trường hợp cần thiết.Phu Trên Tay là Phu có đầu tiên nên Quân Trôi của nó là Quân Trôi có trước, đầu tiên khi làng phân xử Quân đến Trước, Quân Đến Sau lúc ăn, đánh.

    -Quân Trôi trong Phu Dưới Chiếu: các tổ hợp Phu tròn ăn dưới chiếu. Không được đánh Quân Trôi trong Phu Dưới Chiếu.

    -Quân Trôi trong Phu Ẩn: là các Phu Khàn, Thiên Khai chưa dậy, đang úp dưới chiếu.

    -Mọi quân Yêu đều là Quân Trôi.

    b-QUÂN RÁC: các Quân Bài chưa nằm trong Phu (tổ hợp đủ) đều là quân rác.

    c-QUÂN RẺ: quân bài được đánh giá cả làng đều khó ăn và còn.

    d-QUÂN ĐẮT: quân bài được đánh giá nhiều nhà khác dễ ăn, cước sắc.

    e-QUÂN Ù: lá bài người chơi Ù với nó.

    -Quân Ù từ mở Nọc.

    -Quân Ù từ người khác đánh ra.

    -Quân Ù từ Thiên Khai dậy khi Động Nọc.

    -Khi Thiên Ù, Quân Ù nhiều vùng ước định là Quân Bắt Cái.

    f-QUÂN NHÁI: cửa trên vừa có nó không ăn được, mở nọc lại hiện ra chính nó.

    g-QUÂN LÀNH BÀI: quân bài đánh ra, làng ít có khả năng Ù hay ăn, nhất là về cuối ván chơi.

    h-QUÂN BẮT CÁI: là quân bài nhà có cái nhận được thêm khi Bắt Cái.Ở TT chiếu, do Nhà Bắt Cái tùy chọn 1 trong 2 quân thường theo qui tắc “Nhất Yêu Nhì Cửu”. Trong TTSĐ, Nhà Bắt Cái chỉ dùng 1 quân đưa vào Bài Cái, cho nên đó là Quân Bắt Cái luôn.


    i- QUÂN ĐẾN TRƯỚC:

    i1-Trường hợp ĐƠN GIẢN: quân giống hệt một quân đã đến trước không ăn, sau đến quên mất lại ăn. Ví dụ, bài lẻ 3 vạn, 3 sách; 3 văn vòng trước xuất hiện, đón Tôm không ăn, vòng sau quên lại ăn là Báo.

    i2-Trường hợp NÂNG CAO: ăn Quân đến sau có cùng chức năng với quân đến trước đã không ăn mà không có cơ sở lý giải, là Báo.

    -Ví dụ: vẫn bài trên, lẻ 3 vạn, 3 sách; vòng trước không ăn 3 văn, vòng sau lại ăn 7 văn là Báo.Nếu Hạ cả Bí Tôm xuống, lý giải 7 văn có sẵn trên tay thì được.

    i3-Trường hợp PHỨC TẠP: “Quân đến sau, Quân đến trước” không dễ thấy như 2 trường hợp 7.i1 và 7.i2, lại ẩn vào trong “Phu có trước, Phu có sau”.

    -Ví Dụ 1 : dưới chiếu ăn 4,5,6 sách; nếu phỗng 7 sách và đánh đi 8 sách là bị Báo, dù là “Ăn một đánh một”. Vì “PHu có trước” 6,7,8 sách chỉ cân đánh 7 sách là tròn bài lại bị bỏ đi để lập ra phu Phỗng 3 con 7 sách(là “Phu có Sau”) là phạm luật.Ở đây, con 8 sách trên tay là “Quân đến trước” vì nó nằm trong “Phu có trước” là 4,5,6,7,8 sách.

    -Ví dụ 2: Có phỗng 2 văn,nằm trong phu 1,2,3 văn trên tay có sẵn. Phỗng 2 văn đánh đi 3 văn, lúc này chưa sao. Vòng sau 1 văn đến cửa trì, ăn và hạ 1 văn trên tay xuống vậy là Báo. Vì phu “1,2,3 văn” là “Phu có trước”.Trường hợp này, người đánh cao đành để treo tranh 1 văn trên tay không hạ. Đánh tiếp nếu Ù rồi Hạ. Làng không tinh sẽ bắt “Treo tranh 1 văn”, cho Ù Lành Làng”. Làng tinh sẽ bắt Báo lại nước bài phỗng 2 văn. Mình ủng hộ cho Ù Lành Làng vì nguyên tắc khi Ù, không hồi tố các nước bài trước.

    k-QUÂN ĐẾN SAU: theo khái niệm Quân Đến Trước, để tính ra thứ tự Quân Đến Sau. Ăn Quân Đến Sau mà đánh đi Quân Đến Trước là bị báo.

    l-QUÂN KIÊNG:

    -Quân Kiêng đầu hội chơi, người ta kiêng đánh những Quân Bài 6 văn, 9 văn. Nhiều vùng Kiêng kỹ, cả 4 sách, 7 sách.

    -Quân Kiêng Cước Sắc: một số nơi người ta Kiêng Ù bài Kính Tứ Cố (bài đen tuyền chỉ có 4 Quân Ông Cụ), nhất là khi còn Tứ Thân Phụ Mẫu.

    -Quân Kiêng vừa Ù: quân vừa Ù cũng ít khi Nhà Cái đánh đi đầu tiên.

    m-QUÂN PHỖNG: Quân làng đánh ra hay Mở Nọc mà ĐT phỗng được. Lưu ý các Quân PHỗng Ù.

    n-QUÂN HẾT BỐN: quân bài đã hiện trên mặt chiếu đủ cả 4 lá. Không còn chờ để ăn hay ù với nó nữa.

    0-QUÂN CẠN: Quân bài được suy đoán rất ít khả năng còn hiện lên trên chiếu.

    p-QUÂN ĐEN, QUÂN ĐỎ: 120 quân bài Tổ Tôm có 2 loại màu ĐEN và ĐỎ.

    -QUÂN ĐEN có 92 lá bài gồm có 3 bộ Yêu Đen(Nhất Văn, Nhất Vạn, Nhất Sách);Tất cả các bộ quân từ Nhị đến Thất; Bộ Bát có Bát Văn; Bộ Cửu có Cửu Văn.

    -QUÂN ĐỎ có 28 lá bài gồm có 7 Bộ Quân: 3 bộ Yêu Đỏ (Chi Chi, Thang Thang, Ông Cụ);2 Bộ Bát là Bát Vạn, Bát Sách; 2 Bộ Cửu là Cửu Vạn, Cửu Sách.


    8 – NỌC: phần bài Người Bắt Cái để ở giữa chiếu (trên đĩa Nọc) để người chơi mở dần.

    a-BÀI NỌC: tất cả lá bài trong NỌC. Bài Nọc là phần bài chọn Bắt Cái bao giờ cũng bớt 1 lá vào Bài Cái cho Người Có Cái.

    -Chơi TT5, Nọc có 19 lá bài.

    b-MỞ NỌC như BỐC NỌC: Nọc được các ĐT mở liên tục cho đến khi có người Ù. Khi Nọc chỉ còn 5 lá bài, thì không mở nữa, ván bài Hòa.

    c-ĐẾM NỌC, KIỂM NỌC: ván bài khi hòa,ĐT đếm số lá bài trong Nọc có đúng còn 5 không. Thực ra, tổng số quân rác tại các cửa là 15 là ván bài Hòa.

    d-ĐỐC NỌC: Quân bài mở cuối cùng của Nọc. Trong TT SĐ là Quân Bài có sô thứ tự là 6. Tương tự, Quân Bài số 5 các ĐT hay gọi là Đội Nọc.

    e-CHÁY NỌC: bốc hết Nọc mà ván bài vẫn Hòa. RÓC NỌC có ý nghĩa tương tự.

    f-KHÓA NỌC: Tổ Tôm Chiếu, 1 trong 2 quân dùng Bắt Cái, để ngửa trên cùng Bài Nọc, là quân Khóa Nọc. Trong Lập Trình TTSĐ không có quân lộ này vì chỉ Bắt Cái bằng 1 lá bài.

    g-MỞ CAO, CAO TAY BỐC: chỉ việc ĐT chọn lựa Mở Nọc, thay vì ăn quân nhà trên đánh xuống hoặc quân mở ở cửa nhà trên. Khi chơi Tổ Tôm, do nhiều quân bài hơn, nước bài phức tạp hơn, Ù được cả quân ĐT đánh ra, nên việc Mở Cao, Cao Tay Bốc càng quan trọng.

    -Thành ngữ hài hước của dân gian “Khi đi vợ dặn Cao Tay Bốc” là từ ý nghĩa này.

    h-ĐẤM YÊU: khi mở Nọc cửa trì được con Yêu. Bài lúc đã chờ ù, đôi khi Đấm Yêu làm vỡ chờ vì không còn quân đánh xén.


    9-CÁI: Quyền hạn khởi đầu ván bài

    a-NHÀ CÁI: chỉ Đấu Thủ đánh ra quân bài đầu tiên khi vào ván.

    -Nhà Cái được chọn lựa đầu hội do Bắt Cái chỉ định.

    -Ván chơi Hòa, nhà có KÊ (ĐẦU KÊ) sẽ có cái tiếp theo. Quân bài cuối cùng của Nọc mở để hòa, ở cửa trì nhà nào, nhà đó là ĐẦU KÊ, có cái ván tiếp theo. Trong TTSĐ là khi mở quân số 6.

    -Khi cả làng cùng bỏ bài, sẽ BẮT CÁI LÀNG, như Bắt Cái đầu hội.

    -Bắt Cái Đầu Hội không chọn Nhà Cái theo thành ngữ “Nhất Nhị Tại Vị” như nhiều nơi hiểu nhầm. Vận dụng như vây, trong 5 đấu thủ người số 5 sẽ không được có cái. Để cho vị trí số 5 không bị thiệt thòi khi bắt cái làng đầu hội, nhiều vùng coi 3 Quân Yêu Đỏ Chi Chi, Thang Thang, Ông Cụ là số 10.TTSĐ lưu ý vận dụng điều này, dù chỉ bắt cái 1 quân.

    b-NHÀ BẮT CÁI: người chọn Bài Nọc, lấy quân để tạo ra Nhà Cái và Bài Cái Đầu Hội.

    -Khởi đầu hội, Nhà Bắt Cái thường là người cao tuổi nhất hay chủ nhà, cũng công bố luật lệ chơi.Trong TTSĐ, là chủ bàn.

    -Các ván sau, Nhà Bắt Cái là người ván trước có cái. Sau ván Ù Thông, Tổ Tôm chiếu bắt cái theo vòng ngược chiều kim đồng hồ, tính từ người vừa Bắt Cái. TTSĐ để ĐT dưới nhà Ù Bắt Cái. Ù Tam Khôi trở đi, Bắt Cái theo vòng như Tổ Tôm Chiếu.

    c-BÀI CÁI: ở Tổ Tôm Chiếu, Nhà Bắt Cái chọn Bài Nọc, để lên đĩa, lấy 1 quân bất kỳ ngửa lên. Chọn thêm 1 lá từ phần bài bất kỳ, cộng tổng 2 số, lấy phần dư của phép chia cho 5, đếm ngược chiều kim đồng hồ, chọn ra Bài Cái. Quân thêm cho Bài Cái là 1 trong 2 quân chọn ra.

    -Bài Cái có thể chọn vận dụng thành ngữ “Nhất Nhị Tại Vị” vì không gây nhiều ảnh hưởng tới ván chơi.

    -Trong LT TTSĐ, chỉ bắt cái từ 1 Quân Bài Nọc, đếm luôn ngược chiều

    Kim đồng hồ, từ vị trí chọn Bài Nọc, để xác định ra Bài Cái.


    10-CỬA:

    a-CỬA là vị trí giữ hai Đấu Thủ. TT Bí Ngũ, đủ người sẽ có 5 cửa.

    b-CỬA TRÌ: Cửa bên tay phải của ĐT, không nên gọi là “Cửa Của Mình”, các cụ cười. Người chơi còn hay dùng lẫn Cửa Trì với Cửa Dưới.

    c-CỬA TRÊN; Cửa bên tay trái của người chơi, là Cửa Trì của Nhà Trên.

    d-CỬA CHÉO: các cửa không liền với ĐT.

    e-CỬA Ù: các cửa tính theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ, ưu tiên người ở CỬA TRƯỚC, CỬA TRÊN.

    -Phỗng, Dậy Khàn, Dậy Thiên Khai là Quân Ù vẫn phải tính theo thứ tự Cửa Ù, không được ưu tiên như CHÍU khi chơi CHẮN. CỬA SAU thua CỬA TRƯỚC.