Nơi ACE HCHT Giao Lưu Chém Gió

Thảo luận trong 'Hội Chắn Hà Tây' bắt đầu bởi Seo 1976, 5/4/19.

  1. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Lịch Sử và Văn Hóa Huyện Thạch Thất
    1517211040_1410401020541102fc4bdbd. van-canh-chua-thay-kham-pha-bi-an-hang-cac-co. phatgiao-org-vn-van-canh-chua-thay. chua-thay-ha-noi. 1458984257_2. Đây là vùng quê bán sơn địa, núi đá vôi xen lẫn đồng bằng. Nổi tiếng nhất có chùa Tây Phương ở xã Thạch Xá.

    Xã Chàng Sơn nổi tiếng về nghề làm quạt và đồ mộc. Xã Bình Phú nổi tiếng về nghề mây tre đan. Xã Hữu Bằng nổi tiếng về buôn bán, thương mại,

    Xã Đồng Trúc là nơi đã xuất hiện cộng đồng dân cư cách đây trên 2000 năm, có nhiều địa chỉ khảo cổ, hiện còn lưu giữ được nhiều di vật, nhiều dấu tích có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu lìm hiểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, tôn giáo và tín ngưỡng. Ở đây cũng có đình Trúc Động cổ nhất huyện.

    Thạch Thất là quê hương của "Trạng Bùng" Phùng Khắc Khoan, Đình nguyên Hoàng giáp Nguyễn Đăng Huân (1804-1838), danh nhân văn hóa Nguyễn Tử Siêu, nhà viết kịch Tào Mạt, nhà thơ Bằng Việt. Thạch Thất cũng là quê hương của võ sư Nguyễn Lộc(1912-1960), người sáng lập môn Vovinam (Việt Võ Đạo)

    [​IMG]

    Chùa Tây Phương - điểm tham quan du lịch hấp dẫn nhất của Thạch Thất
    Thạch thất nổi tiếng với nhiều làng nghề nổi tiếng của xứ Đoài, như nghề Mộc Chàng Sơn, Dệt Hữu Bằng, Đan lát Bình phú Sắt Phùng Xá, làm bánh chè lam Thạch Xá và kẹo trà lam Đại Đồng, vv.... Hiện nay một số nơi tại huyện Thạch Thất như Làng Chàng Sơn,Thôn Phú Hòa (Làng Ra) xã Bình Phú, Thạch Xá vẫn còn lưu giữ bộ môn nghệ thuật dân gian "Múa rối nước". Hàng năm vào dịp lễ tết, hội làng vẫn tổ chức biểu diễn. Đặc biệt rối nước Làng Ra hiện vẫn còn lưu giữ được những con rối cổ, bên cạnh đó hàng năm các đội vẫn tổ chức tu sửa và bổ sung con rối mới bởi các nghệ nhân trong làng như nghệ nhân Nguyễn Khắc Thoa, cố nghệ nhân Nguyễn Khắc Giáp, nghệ nhân Nguyễn Hữu Chuân,... Lưu chuyền đội múa rối nước Làng Ra do Thiền sư Từ Đào Hạnh khởi lập nên hàng năm vào dịp hội Chùa Thầy đội múa rối Làng Ra biểu diễn tại nhà Thủy Đình tại hồ Long Trì

    Lịch sử
    Trước đây Thạch Thất là huyện thuộc phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Tên gọi của Thạch Thất có nghĩa là nhà đá.

    Từ ngày 21 tháng 4 năm 1965 thuộc tỉnh Hà Tây. Cùng thời điểm này, sáp nhập xã An Hòa vào xã Tiến Xuân thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.2 .

    Ngày 27 tháng 12 năm 1975 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình3 , gồm 19 xã: Bình Phú, Bình Yên, Cẩm Yên, Cần Kiệm, Canh Nậu, Chàng Sơn, Đại Đồng, Dị Nậu, Đồng Trúc, Hạ Bằng, Hương Ngải, Hữu Bằng, Kim Quan, Lại Thượng, Liên Quan, Phú Kim, Phùng Xá, Tân Xã, Thạch Xá.

    Từ năm 1978 đến năm 1991, nhập vào thủ đô Hà Nội4 .

    Từ ngày 12 tháng 8 năm 1991 lại trở về với tỉnh Hà Tây5 .

    Ngày 23 tháng 6 năm 1994, chuyển xã Liên Quan thành thị trấn Liên Quan6 .

    Ngày 28 tháng 8 năm 1994, thành lập xã Thạch Hòa trên cơ sở một phần diện tích và nhân khẩu của các xã Bình Yên, Tân Xã, Hạ Bằng và Đồng Trúc. Từ đó, huyện Thạch Thất có thị trấn Liên Quan và 19 xã: Bình Phú, Bình Yên, Cẩm Yên, Cần Kiệm, Canh Nậu, Chàng Sơn, Đại Đồng, Dị Nậu, Đồng Trúc, Hạ Bằng, Hương Ngải, Hữu Bằng, Kim Quan, Lại Thượng, Phú Kim, Phùng Xá, Tân Xã, Thạch Hòa, Thạch Xá.

    Từ ngày 29 tháng 5 năm 2008, khi tỉnh Hà Tây bị giải thể, Thạch Thất là một huyện của Hà Nội7 . Cùng ngày, HĐND thành phố Hà Nội mới (mở rộng) quyết định chuyển cho huyện Thạch Thất quản lý 3 xã mới nhập từ huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình, là các xã: Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung.

    Ngày 8 tháng 5 năm 2009, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 3 xã Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình được sáp nhập vào huyện Thạch Thất8 . Như vậy, huyện Thạch Thất có 1 thị trấn và 22 xã, giữ ổn định cho đến nay.

    Các nhà Khoa bảng huyện Thạch Thất
    Sắp xếp theo thứ tự từ Triều Lý đến triều Nguyễn:

    1. Liêu Hiến Chương, Liêu Hiến Quang (Thái Học Sinh, Xã Hương Ngải)
    2. Đỗ Đạt (Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Xã Nguyễn Xá)
    3. Nguyễn Ngung (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Hữu Bằng)
    4. Đỗ Hịch (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Hương Ngải)
    5. Nguyễn Tử Kiến (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Trạch Lôi)
    6. Phí Thạc (Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Xã Hương Ngải)
    8. Phan Tế (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Thạch Xá)
    9. Phùng Khắc Khoan (Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Xã Phùng Xá)
    10. Phan Bảng (Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Xã Hữu Bằng)
    11. Nguyễn Côn (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Thạch Xá)
    12. Đỗ Thê (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Hương Ngải)
    13. Nguyễn Nham (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Phùng Xá)
    14. Nguyễn Thì Lượng (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Phùng Xá)
    15. Vũ Đình Dung (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Phùng Xá)
    16. Nguyễn Đăng Huân (Đình nguyên Hoàng giáp, Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, xã Hương Ngải)
    17. Chu Duy Tân (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Phùng Xá)
    18. Vũ Huy Huyến (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Đại Đồng)
    19. Nguyễn Văn Bân (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Hữu Bằng),...
     
  2. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Truyện Cổ Tích
    LẦN ĐẦU TIÊN GẶP ĐƯỢC ANH CSGT DỄ THƯƠNG

    Sáng, chạy xe đến Láng rẽ trái qua Cầu Giấy thì bị anh CSGT thổi lại, chào xong thì nói:

    - Em đi vào phần đường cấm rẽ trái, chuyển hướng không có tín hiệu, như vậy rất nguy hiểm. Anh nhắc nhở.

    - Thôi, em đi đi. À, nhưng mà hình như bánh trước bị mềm, em vào bơm lên, đi thế nguy hiểm lắm.

    Mình cám ơn rồi dắt xe vô lề để bơm.

    Anh CSGT lại bảo:

    - Em đưa cái mũ bảo hiểm anh, mũ này hình như không bảo đảm chất lượng, em đưa mũ đây cho anh...

    Nói xong anh CS đi mất.

    Lát sau, vừa bơm xe xong thì anh ấy xuất hiện, đưa cho mình cái mũ mới, anh ấy bảo, đây là mũ bảo đảm chất lượng trong chương trình đổi mũ dỗm lấy mũ thật của thành phố. Nói xong anh ấy đưa tay chào rồi đi khiến mình không kịp cám ơn.

    *Chiều tối, mấy đứa bạn rủ đi nhậu, kể chuyện buổi sáng ngày đẹp trời vui quá nên uống kha khá. Vừa lên xe đi một đoạn thì bị thổi lại. Thấy anh CSGT cầm cái máy đo nồng độ cồn nên mình thừa nhận ngay:

    -Em đã uống 8-9 chai, khỏi đo, chắc bị phạt rồi. Anh CSGT từ tốn:

    -Vấn đề không phải là phạt mà em uống nhiều rồi điều khiển xe nguy hiểm lắm, nhà em ở đâu, ngồi lên phía sau xe anh đưa về, em đưa chìa khóa cho đồng chí này (anh ấy chỉ người bên cạnh) để đồng chí ấy đưa xe về cho.

    *Về đến nhà ba mẹ, thấy hai đồng chí cảnh sát áp tải mình thì sợ quá, anh CSGT nói:

    -Chị pha cho em nó ly nước chanh, em ấy uống nhiều bia rồi đó. Để tôi dắt xe vào cho.

    Theo: Truyện Cổ tích Việt Nam!
     
  3. trai nguyenbac

    trai nguyenbac Hội Phó - Trưởng Ban Tài Chính Hội Chắn Hà Tây

    FB_IMG_1557989796354.
     
  4. Yeu Thương Xóm Đình

    Yeu Thương Xóm Đình Hội Chắn Hà Tây

    Tiếng ve râm ran, tháng 5 về, lòng bao niềm thương và nỗi nhớ!
    Một chuyến đò lại sắp cập bến. Một chuyến đò mang bao niềm hy vọng, kỳ vọng của các thầy các cô.
    Sau 4 năm được dìu dắt, được học tập và tu dưỡng dưới mái trường thân thương, các em cũng đã trang bị cho mình đủ sự tự tin, một chút hành trang là vốn kiến thức ít ỏi để bước đi trên con đường em đã chọn. Rồi mai này mỗi em mỗi hướng đi. Mỗi hướng đi của các em là mỗi ánh mắt đau đáu dõi theo của các thầy các cô, những người đặt hết niềm tự hào, sự kỳ vọng nơi các em! Trên con đường đó sẽ có nhiều gập ghềnh, nhiều khó khăn, nhưng với bản lĩnh của tuổi trẻ mong rằng các em sẽ luôn vượt qua thử thách. Chúc các em luôn vững bước, chân cứng đá mềm, thu gặt được nhiều thành công! P/s: Mong các bác cho em xin một góc để tự tình ạ! [​IMG]
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 17/5/19
  5. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Hè về Sơn Tây Xứ Đoài. FB_IMG_1558064185353. FB_IMG_1558064234703. FB_IMG_1558064244848. FB_IMG_1558064256375. FB_IMG_1558064273709.
     
  6. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Văn Hóa Lịch Sử Huyện Quốc Oai hoi-chua-thay-dien-ra-vao-ngay-nao-nam-mau-tuat-2018-bb-baaacuhPUB. images (2). images (3). [​IMG]
    Chùa Thầy - Chốn thiền môn thanh tịnh cuốn hút du khách
    Cảnh trí đẹp, bình yên và nên thơ, thể hiện trong thơ của nhà thơ quê hương xứ Đoài - Quang Dũng:

    Bao giờ trở lại đồng Bương, Cấn
    Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng
    Sông Đáy chậm nguồn qua phủ Quốc
    Sáo diều vi vút thổi đêm trăng...

    Quốc Oai nổi tiếng với Chùa Thầy, nơi hàng năm có hàng ngàn du khách khắp mọi nơi tới vãn cảnh, với câu nói "Chuông Cấn, Bút Than,Gan Dương Cốc, Nón Mỹ" (Nghĩa là: Chuông lớn ở Chùa Cấn Hữu, học giỏi ở Ngọc Than, anh hùng lì lợm ở Dương Cốc và nơi làm nón đẹp phải kể đến Phú Mỹ). Chùa Thầy có món thịt dơi nổi tiếng. Quốc Oai có đình So là ngôi đình đẹp nhất xứ Đoài, thờ tam vị đại vương theo giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân.

    Đình So ở xã Cộng Hòa, Quốc Oai Hà Nội là một trong những di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật độc đáo nhất của xứ Đoài. Đình thờ 3 anh em họ Cao có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Đình So đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt

    Ở thế kỷ X, Quốc Oai vốn thuộc căn cứ Đỗ Động Giang của tướng quân Đỗ Cảnh Thạcthời 12 sứ quân trị vì. Hiện nay còn một số di tích thờ phụng ông như đình Cổ Hiền, đền Tam Xã,...

    [​IMG]
    Sông Tích Giang hay còn gọi là Sông Con
    Đình Cổ Hiền ở xã Tuyết Nghĩa, Quốc Oai. Đình nằm ở gần sông Tích, được coi là vị trí trung tâm thành Quèn xưa của Đỗ Tướng Công. Đình là nơi thờ thành hoàng làng Độc Nhĩ Vương Đỗ Cảnh Thạc, vị tướng nhà Ngô và một lãnh đạo nổi tiếng thời 12 sứ quân. Đỗ Cảnh Thạc là một vị tướng có tài, ngoài những chiến công hiển hách, ông còn là người giúp nhân dân trong "Nông – Trang – Canh – Cửi" nên khi mất được người dân trong lãnh địa suy tôn là thành hoàng làng.

    Đền Tam Xã còn được gọi là quán Tam Xã, đền Trình hay đền thờ Đỗ tướng công nằm ở trung tâm xã Sài Sơn. Xưa dân 3 làng Sài Khê, Thụy Khê, Đa Phúc là 3 xã cùng chung một đền thờ. Nay tam xã hợp nhất vào Sài Sơn nhưng mỗi làng đều xây dựng một ngôi đình để thờ vọng Đỗ tướng công. Vị trí xã Sài Sơn tương truyền là nơi sứ quân Cảnh Thạc hóa.

    Quán Trên, Quán Dưới ở xã Đồng Quang, Quốc Oai Hà Nội thờ thành hoàng làng Đồng Lư là 3 anh em họ Cao (cũng được thờ ở đình So), người trang Sơn Lộ có công giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân.

    Đình Đồng Lư ở xã Đồng Quang, Quốc Oai Hà Nội thờ thành hoàng làng Đồng Lư là 3 anh em họ Cao, người trang Sơn Lộ có công giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân. Làng Đồng Lư và Làng So xưa thuộc trang Sơn Lộ nên cùng có đình So thờ tam vị thành hoàng Hậu Lê
     
  7. trai nguyenbac

    trai nguyenbac Hội Phó - Trưởng Ban Tài Chính Hội Chắn Hà Tây

  8. Yeu Thương Xóm Đình

    Yeu Thương Xóm Đình Hội Chắn Hà Tây

  9. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Huyện Hoài Đức
    Tên gọi Hoài Đức, có từ năm 622 đời Đường, niên hiệu Vũ Đức do huyện Tống Bình tách ra làm 2 huyện Giao Chỉ và Hoài Đức.
    Năm 627: Hợp nhất các huyện Hoàng Giáo, Giao Chỉ và Hoài Đức thành huyện Tống Bình.
    Thời Lý- Trần, phần đất huyện Hoài Đức hiện nay thuộc thuộc châu Từ Liêm và huyện Từ Liêm, phủ Đông Đô, lộ Đông Đô.
    Thời Lê, phần đất huyện Hoài Đức hiện nay thuộc huyện Đan Phượng và huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây.
    Phủ Hoài Đức nhà Nguyễn
    Sửa đổi

    Bản đồ phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội và thành Hà Nội năm 1883.
    Năm Gia Long thứ 4 (1805): Gia Long đổi tên phủ Phụng Thiên của Thăng Long (thời Hậu Lê) thành phủ Hoài Đức, với nguyên trạng phần đất Phụng Thiên cũ, gồm 2 huyện Vĩnh Thuận (tức là huyện Quảng Đức thời Hậu Lê) và Thọ Xương (hay Vĩnh Xương) thời Lê [1]. Như vậy, phủ Hoài Đức những năm đầu nhà Nguyễn (từ những năm 1805-1831) là phần đất thuộc các huyện Đan Phượng và Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Phần thuộc huyện Đan Phượng thời Nguyễn gồm các xã: Dương Liễu, Cát Quế (Quế Dương),Yên Sở,... thuộc tổng Dương Liễu; Lai Xá (Lai Xá, Kim Chung),... thuộc tổng Kim Thia; Sơn Đồng thuộc tổng Sơn Đồng; Đắc Sở, Lại Yên,... thuộc tổng Đắc Sở;... Phần thuộc huyện Từ Liêm thời Nguyễn gồm các xã: Vân Canh,... thuộc tổng Hương Canh; La Phù, An Khánh, An Thượng, Đông La, Vân Côn... thuộc tổng Yên Lũng;...[2]
    Năm 1831: Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội. Phủ Hoài Đức là một trong 4 phủ của tỉnh Hà Nội là: Hoài Đức, Ứng Hòa, Thường Tín, Lý Nhân.
    Đồng thời, năm 1831, tách huyện Từ Liêm ra khỏi phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây) cho lệ vào phủ Hoài Đức, (một phần của huyện Hoài Đức ngày nay cũng theo huyện Từ Liêm nhà Nguyễn nhập vào phủ Hoài Đức). Phủ lị ở thôn Tiên Thị, huyện Thọ Xương, nay là khu vực phố Phủ Doãn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tường thành phủ chu vi 203 trượng, cao 7 thước, 2 tấc, mở 3 cưa, hào rộng 2 trượng 5 thước, tường thành hình vuông, chiều Đông Bắc – Tây Nam. Phía Bắc giáp phố Ấu Triệu hiện nay. Năm 1833, dời đến xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, do phủ kiêm lý, đắp thành phủ mới, có hào, mặt trước, nay là đường Nguyễn Phong Sắc quận Cầu Giấy Hà Nội. Năm 1883, tại lỵ sở phủ Hoài Đức diễn ra một trận kháng cự của quân đội nhà Nguyễn cùng quân Cờ Đen chống lại cuộc tấn công của quân đội Viễn chinh Pháp (Pháp đánh Phủ Hoài), trước khi nhà Nguyễn chính thức đầu hàng Pháp.
    Quy mô phủ Hoài Đức như sau:
    Huyện Thọ Xương (8 tổng: 193 phường, thôn, trại) gồm các tổng: Tả Túc, Tiền Túc, Hữu Túc, Hậu Túc, Tả Nghiêm, Tiền Nghiêm, Hữu Nghiêm, Hậu Nghiêm.
    Huyện Vĩnh Thuận (5 tổng: 57 xã, thôn, phường, trại) gồm các tổng: Thượng, Trung, Nội, Hạ, Yên Thành.
    Huyện Từ Liêm (13 tổng: 91 xã, thôn, trang, trại, phường, sở), được chuyển từ tỉnh Sơn Tây về, gồm các tổng: Thượng Hội, Thượng Trì, Hạ Trì, Phú Gia, Minh Cảo, Cổ Nhuế, Dịch Vọng, Hương Canh, Tây Đam, Thượng Ốc, Yên Lũng, La Nội, Thiên Mỗ.
    Năm 1888, huyện Đan Phượng thuộc phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, được nhập vào phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội (kéo theo một phần đất của Hoài Đức ngày nay, thuộc Đan Phượng thời đó, được nhập vào phủ Hoài Đức). Huyện Đan Phượng (9 tổng: 60 xã, thôn, châu, phường, vạn) gồm các tổng: Sơn Đồng, Hạ Hiệp, Thượng Hiệp, Kim Thia, Phượng Thượng, Dương Liễu, Đắc Sở, Thiên Mạc, Thu Vĩ.
    Từ ngày 6 tháng 12 năm 1904, phủ Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Đông (đổi tên từ tỉnh Cầu Đơ). Năm 1942, thì bỏ phủ Hoài, phần đất nguyên của phủ Hoài Đức được nhập vào Hà Nội.
    Huyện Hoài Đức hiện tại
    Sửa đổi
    Sau năm 1945, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông được thành lập trên phần đất nguyên là một số xã của các huyện Đan Phượng và huyện Từ Liêm cũ
    Từ tháng 3 năm 1947, 4 huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Trì, Thanh Oai và thị xã Hà Đông được cắt chuyển về thành phố Hà Nội theo quyết định của Khu II (Khi sự kiện 19 tháng 12 năm 1946 nổ ra, Mặt trận Hà Nội được sát nhập vào Khu II. Từ ngày 1 tháng 11 năm 1948, Khu 2 đặt quyền trực thuộc của Liên khu 3, nhưng đến tháng 5 năm 1949 thì khu Hà Nội lại được tách ra để thành lập Mặt trận Hà Nội độc lập, trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Tình trạng này được duy trì cho đến sau năm 1954, khi đấy gọi là Khu Hà Nội).
    Từ ngày 12 tháng 3 năm 1947 đến tháng 5 năm 1948, huyện Hoài Đức được gộp vào liên quận huyện IV - Hoài Đức và Đan Phượng (theo công văn số: 038/KCT, ngày 13 tháng 3 năm 1947), UBK- Khu XI của Bộ chỉ huy Chiến khu XI). Tháng 5 năm 1947, Trung ương quyết định tách ba tỉnh Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây ra khỏi Khu II, thành lập Khu XI.
    Tháng 5 năm 1948 đến tháng 10 năm 1948, Khu XI được Trung ương quyết định giải thể Khu XI và thành lập tỉnh Lưỡng Hà (Hà Đông - Hà Nội) thuộc Liên khu III. Lúc này, liên quận huyện IV - Hoài Đức và Hoài Đức được tách ra thành huyện Liên Bắc. Hoài Đức thuộc huyện Liên Bắc - tỉnh Lưỡng Hà.
    Từ tháng 10 năm 1948 đến tháng 3 năm 1954: Khu uỷ III tách Lưỡng Hà thành 2 tỉnh: Hà Đông, Hà Nội, và do vậy, lúc này, Hoài Đức thuộc huyện Liên Bắc tỉnh Hà Đông
    Đến tháng 11/1953, huyện Hoài Đức và huyện Đan Phượng được tách bởi huyện Liên Bắc. Hoài Đức bao gồm 10 xã: Kim Chung, Thọ Nam, An Thượng, Sơn Trang, Hữu Hưng, Dương Cát, Đại La, Phương Sơn, Vân Côn, Mã Tân.
    Tháng 4 năm 1954, huyện Hoài Đức được tái lập và thuộc tỉnh Hà Đông quản lý theo quyết định của Liên khu uỷ III.
    Sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất (1956), Hoài Đức có thêm 2 xã mới sáp nhập về là xã Cương Kiên và xã Văn Khê. Đồng thời để phù hợp với những quy định mới về quản lý đơn vị hành chính, một số xã được tách ra, thay đổi lại. Lúc này Hoài Đức có 25 xã.
    Ngày 20 tháng 4 năm 1961: Kì họp khóa II, kỳ 2, Quốc hội đã quyết định mở rộng Hà Nội lần thứ nhất, 3 xã của huyện Hoài Đức (tỉnh Hà Đông) là: Cương Kiên (Trung Văn), Hữu Hưng (sau chia thành 2 xã: Tây Mỗ và Đại Mỗ), Xuân Phương được sáp nhập vào Hà Nội (nay là các phường Trung Văn, Tây Mỗ, Đại Mỗ, Phương Canh và Xuân Phương thuộc quận Nam Từ Liêm).[3]
    Ngày 21 tháng 4 năm 1965: Huyện Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Tây mới được thành lập do hợp nhất 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây.[4]
    Ngày 15 tháng 9 năm 1969, chuyển xã Văn Khê vào thị xã Hà Đông (nay là 2 phường La Khê và Phú La thuộc quận Hà Đông).[5]
    Từ ngày 27 tháng 12 năm 1975, Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Sơn Bình hình thành do sáp nhập 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình[6], gồm 21 xã: An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Đắc Sở, Di Trạch, Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Dương Liễu, Dương Nội, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, Minh Khai, Sơn Đồng, Song Phương, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn, Yên Nghĩa, Yên Sở.
    Ngày 29 tháng 12 năm 1978: Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 4 đã quyết định mở rộng Hà Nội lần thứ 2, Hoài Đức cùng với các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng, Thạch Thất, thị xã Sơn Tây của tỉnh Hà Sơn Bình và 2 huyện Mê Linh, Sóc Sơn của tỉnh Vĩnh Phú được sáp nhập vào Hà Nội[7]; đồng thời tiếp nhận 4 xã Tân Phú, Đại Thành, Cộng Hòa, Tân Hòa của huyện Quốc Oai và 2 xã: Phụng Châu, Tiên Phương của huyện Chương Mỹ[8]. Lúc này, huyện Hoài Đức có 27 xã: An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Cộng Hòa, Đắc Sở, Đại Thành, Di Trạch, Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Dương Liễu, Dương Nội, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, Minh Khai, Phụng Châu, Sơn Đồng, Song Phương, Tân Hòa, Tân Phú, Tiên Phương, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn, Yên Nghĩa, Yên Sở.
    Ngày 12 tháng 8 năm 1991: Tỉnh Hà Tây được tái lập, tách từ tỉnh Hà Sơn Bình. Tại kì họp thứ 9 quốc hội khoá VIII ngày 12 tháng 8 năm 1991, ranh giới thành phố Hà Nội được điều chỉnh, Hoài Đức cùng với 4 huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng, Thạch Thất, thị xã Sơn Tây được trao trả cho tỉnh Hà Tây.[9]
    Ngày 23 tháng 6 năm 1994, trả lại các xã Phụng Châu, Tiên Phương cho huyện Chương Mỹ và trả lại các xã Tân Phú, Đại Thành, Cộng Hòa, Tân Hòa cho huyện Quốc Oai; đồng thời, thị trấn Trạm Trôi được thành lập (trên cơ sở thôn Giang Xá của xã Đức Giang) và trở thành huyện lị của huyện.[10] Lúc này, huyện Hoài Đức có thị trấn Trạm Trôi và 21 xã: An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Đắc Sở, Di Trạch, Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Dương Liễu, Dương Nội, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, Minh Khai, Sơn Đồng, Song Phương, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn, Yên Nghĩa, Yên Sở.
    Ngày 23 tháng 9 năm 2003, chuyển xã Yên Nghĩa vào thị xã Hà Đông.[11]. Lúc này, huyện Hoài Đức có 1 thị trấn và 20 xã.
    Ngày 4 tháng 1 năm 2006, chuyển xã Dương Nội vào thành phố Hà Đông mới được thành lập.[12] Như vậy, huyện Hoài Đức có thị trấn Trạm Trôi và 19 xã: An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Đắc Sở, Di Trạch, Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Dương Liễu, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, Minh Khai, Sơn Đồng, Song Phương, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn, Yên Sở, giữ ổn định đến nay.
    Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, huyện Hoài Đức được sáp nhập vào Hà Nội.[13]
    Huyện đang phấn đấu đến năm 2020 trở thành quận nội thành.
    Văn hóa và di tích lịch sử
    Sửa đổi
    Hoài Đức nằm trong một miền đất cổ, có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa. Cùng với quá trình hình thành và phát triển, huyện đang lưu giữ một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng. Đây là tài sản vô giá của các thế hệ trước truyền lại cho các thế hệ sau, đồng thời, có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.

    Hiện nay, toàn huyện có 430 di tích thuộc các loại hình kiến trúc nghệ thuật, văn hóa, lịch sử kháng chiến, tôn giáo tín ngưỡng, đã có 92 di tích được xếp hạng (trong đó 68 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 24 di tích được xếp hạng cấp thành phố) và nhiều di chỉ khảo cổ có niên đại trải dài từ thời đại đồ đá mới, thời đại đồng thau đến thời kỳ Bắc thuộc. Tiêu biểu như: Di chỉ khảo cổ Vinh Quang (xã Cát Quế) thuộc nền văn hóa Phùng Nguyên; Di chỉ khảo cổ Vườn chuối (xã Kim Chung), Chùa Gio (xã An Thượng), thuộc các nền văn hóa Gò Mun, Đồng Đậu, Đông Sơn.... đình Giá Lưu Xá, đền Di Trạch, đình chùa Đại Tự (xã Kim Chung), quán Giá (xã Yên Sở)...

    Đặc biệt, trên địa bàn có Nhà Lưu niệm Bác Hồ tại xã Vân Canh nơi dừng chân đầu tiên, đã ghi dấu lưu niệm Bác Hồ và các đồng chí Trung ương Đảng về làm việc trên chặng đường trường kỳ kháng chiến. Đó là đêm ngày 26/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cơ quan bí mật chuyển về ngôi nhà của cụ Nguyễn Thông Phúc, ở làng Hậu Ái xã Thọ Nam (nay là xã Vân Canh) huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội ở và làm việc. Đây cũng là nơi phong trào phát triển mạnh thuộc vùng An toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ. Trong thời gian ở Hậu Ái, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Chính phủ giải quyết nhiều việc hệ trọng của đất nước và khẩn trương chuẩn bị trường kỳ kháng chiến.

    Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, từ năm 1946 đến 1954, toàn bộ khu nhà này đã bị phá hủy. Năm 1988, được sự giúp đỡ của các cơ quan chuyên môn ở Trung ương cùng với Đảng bộ, nhân dân huyện Hoài Đức và xã Vân Canh đã khôi phục lại nguyên trạng ngôi nhà chính của cụ Nguyễn Thông Phúc. Công trình được khánh thành và mở cửa cho khách tham quan vào ngày 19/5/1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Huyện Hoài Đức có 43 lễ hội được tổ chức định kỳ hàng năm, mỗi xã, thị trấn đều có lễ hội truyền thống riêng. Cùng với lễ hội, các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian mang đậm bản sắc của cư dân vùng đồng bằng Bắc bộ được duy trì và phát triển như Ca Trù, hát Chèo, tiêu biểu nhất là diễn xướng Ca Trù (tại thôn Ngãi Cầu xã An Khánh).
     
  10. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    DSC07294.JPG gian-chinh-chua-Tram-Gian-Ha-Noi. tim-ve-chon-thanh-tinh-chua-tram-gian-ru-bo-au-lo-thuong-nhat-e1506075822499. 95_big. 95_big. Văn Hóa Lịch Sử Huyện Chương Mỹ
    Huyện Chương Mỹ nguyên xưa là phần đất của hai huyện Yên Sơn, Mỹ Lương thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây và huyện Chương Đức, thuộc phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng. Đến năm Gia Long thứ 13 (1814), đổi sang phủ Ứng Hòa. Đến năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) chia huyện Chương Đức thành hai huyện Yên Đức, thuộc phủ Mỹ Đức và huyện Chương Mỹ thuộc phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông.

    Sau năm 1945, huyện Chương Mỹ thuộc tỉnh Hà Đông.

    Ngày 21 tháng 4 năm 1965, huyện Chương Mỹ thuộc tỉnh Hà Tây[2].

    Ngày 27 tháng 12 năm 1975, huyện Chương Mỹ thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, gồm thị trấn Chúc Sơn và 32 xã: Đại Yên, Đồng Lạc, Đồng Phú, Đông Phương Yên, Đông Sơn, Hòa Chính, Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Hồng Phong, Hợp Đồng, Hữu Văn, Lam Điền, Mỹ Lương, Nam Phương Tiến, Ngọc Hòa, Ngọc Sơn, Phú Nam An, Phú Nghĩa, Phụng Châu, Quảng Bị, Tân Tiến, Thanh Bình, Thượng Vực, Thụy Hương, Thủy Xuân Tiên, Tiên Phương, Tốt Động, Trần Phú, Trung Hòa, Trường Yên, Văn Võ, Xuân Mai.

    Ngày 17 tháng 2 năm 1979, chuyển 2 xã Tiên Phương và Phụng Châu về huyện Hoài Đức quản lý[3].

    Ngày 27 tháng 3 năm 1984, chuyển xã Xuân Mai thành thị trấn Xuân Mai.[4]

    Ngày 12 tháng 8 năm 1991, huyện Chương Mỹ lại trở về với tỉnh Hà Tây[5].

    Ngày 23 tháng 6 năm 1994, chuyển trở lại 2 xã Tiên Phương và Phụng Châu về huyện Chương Mỹ quản lý[6].

    Ngày 2 tháng 3 năm 2005, sáp nhập toàn bộ 339,09 ha diện tích tự nhiên và 5.036 nhân khẩu của xã Ngọc Sơn vào thị trấn Chúc Sơn[7]. Từ đó, huyện Chương Mỹ có 2 thị trấn và 30 xã.

    Từ ngày 29 tháng 5 năm 2008, tỉnh Hà Tây bị giải thể để sáp nhập vào Hà Nội, huyện Chương Mỹ trực thuộc thành phố Hà Nội[8].


    Vị trí địa lýSửa đổi

    Huyện nằm chính giữa rìa phía Tây Nam Hà Nội, phía Đông giáp huyện Thanh Oai, một góc phía Tây Bắc giáp quận Hà Đông, phía Bắcphía Tây Bắc giáp huyện Quốc Oai, phía chính Nam giáp huyện Mỹ Đức, một góc phía Đông Nam giáp huyện Ứng Hòa, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình.
    • Đình Phương Bản ở xã Phụng Châu, Chương Mỹ Hà Nội Thờ 2 vị tướng nhà Đinh là Uy Sơn đại vương và Ngọ Tân đại vương. Hai ông là người làng Phương Bản từng chiêu mộ binh sĩ theo giúp vua Đinh Tiên Hoàngdẹp loạn 12 sứ quân.
    • Đình Tiến Ân ở xã Thủy Xuân Tiên, Chương Mỹ[9] Hà Nội Đình Tiến Ân thờ Đặng Đống Thính và em trai Đặng Chiêu Pháp có công đánh dẹp 12 sứ quân, đặc biệt là trận đánh sứ quân Đỗ Cảnh Thạc ở đồn Bảo Đà
    • Đình Yên Nhân ở xã Hòa Chính, Chương Mỹ Hà Nội Thờ Hồ Thông là người văn võ toàn tài, thông minh, trí tuệ được phong làm chỉ huy phó sứ thời vua Đinh Tiên Hoàng.
    • Chùa Vô Vi ở xã Phụng Châu, Chương Mỹ: Vào thế kỷ thứ X, một trong những thủ lĩnh của 12 sứ quân đến đây mai danh ẩn tích tại núi Trầm rồi dựng lên ngôi chùa Vô Vi. Thời Tiền Lê, chùa xây dựng ở chân núi có tên gọi là Phúc Trù tự. Thời Trần chùa được xây dựng ở lưng núi gọi là Trai Tinh tự. Thời Hậu Lê, niên hiệu Hồng Thuận 6 (1514) chùa dời lên gần đỉnh núi như ngày nay, đổi lại tên như thời Đinh là Vô Vi tự.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 22/5/19
  11. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Văn Hóa Lịch sử Quận Hà Đông. KYO_4884. IMG0332-3. 1. 4e1b946f648147fe. foody-mobile-metro--656-636090115538604428.
    Thời nhà Nguyễn quận Hà Đông nguyên là làng Cầu Đơ thuộc huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Nội, có cầu Đơ lợp ngói bắc qua sông Nhuệ. Năm 1888, sau khi phần đất của thành Hà Nội cắt làm nhượng địa cho Pháp, phần còn lại của tỉnh Hà Nội thành lập tỉnh Cầu Đơ, với tỉnh lỵ ở Cầu Đơ. Hiện vẫn còn chợ Cầu Đơ và đình làng Cầu Đơ.

    Hà Đông những năm đầu thành lập

    Năm 1904, tỉnh Cầu Đơ đổi tên thành tỉnh Hà Đông, và tỉnh lỵ Cầu Đơ cũng đổi tên thành thị xã Hà Đông. Tỉnh Hà Đông bao gồm thị xã Hà Đông, các phủ Hoài Đức, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Thường Tín, huyện Hoàn Long (nguyên là khu vực ngoại thành Hà Nội). So về diện tích thì tỉnh Hà Đông rộng gấp nhiều lần thành phố Hà Nội. Ngày 6 tháng 12 năm 1904, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi tỉnh Cầu Đơ thành tỉnh Hà Đông và từ đây, cái tên tỉnh Hà Đông bắt đầu xuất hiện. Trước đó, tên Hà Đông chỉ duy nhất xuất hiện trên phạm vi toàn quốc là tên một huyện thuộc tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố Tam Kỳ) và tên Hà Đông từng là tên một tỉnh ở miền Bắc nước Trung Hoa.

    Tỉnh lỵ Hà Đông chiếm một diện diện tích nhỏ hẹp khoảng 0.5 km² đất ruộng làng Cầu Đơ thuộc tổng Thanh Oai Thượng (phía nam thuộc tổng Thanh Oai Hạ) và chỉ có 36 suất định trong tổng số hơn 1000 người, phần đông là công chức, binh lính và gia đình họ. Một số khác là chủ các hiệu buôn. Qua những tư liệu khai thác được cho thấy, Hà Đông manh nha hình thành từ những năm 1896 - 1899 khi tòa công sứ của Chính phủ Pháp di dời về Cầu Đơ. Lúc này, việc xây dựng và kiến trúc ở tỉnh lỵ Hà Đông đã khởi động: đầu tiên là việc bắc cầu qua sông Nhuệ (cầu Trắng), tiếp đó là việc rải đá đường quốc lộ 6 từ Hà Nội vào Hà Đông và từ Hà Đông đi Hòa Bình, rồi công việc đổ đất xây cất dinh công sứ, dinh tổng đốc rồi lập trường Pháp - Việt ở tỉnh lỵ....Đây là giai đoạn khởi đầu ngổn ngang công trường vật liệu, chứng tỏ sự quyết tâm đầu tư mạnh mẽ của nhà cầm quyền đương thời cho việc xây dựng một thủ phủ cấp tỉnh. Không chỉ xây dựng các con đường như: Legriélle, Bắc Kỳ (nay là đường Lê Trọng Tấn), Hoa Lư (nay là đường Phùng Hưng), Gellriáde, v...v mà Hà Đông còn làm xong đường sắt dành cho xe điện về thôn Thái Hà. Từ năm 1904 - 1910, Sở Công chính tỉnh Hà Đông đã tu bổ những con đường mà hiện nay chúng ta vẫn thường đi qua và tiếp tục xây những chiếc cầu mới một cách giản dị, bền chặt hơn những cầu cũ (mặt cầu làm bằng dầm sắt, chân cầu có cột xây).

    Đầu năm 1911 làm nốt con đường xe điện vào Hà Đông, đường tàu điện này có hướng Bờ Hồ - Hà Đông dài 10,36 km, vượt qua cầu Trắng vào tới bãi tre nứa bên sông Nhuệ và chợ gia súc (nay là khu tập thể Nhuệ Giang). Nhờ con đường tàu điện thuận tiện này mà những lò mổ ở Hà Nội, Hải Phòng thường đến mua thịt bò, lợn, trâu ở chợ Đơ tỉnh lỵ Hà Đông.

    Năm 1913 tiếp tục làm một cầu bằng bích long dài 60m bắc qua con sông Nhuệ ở cột mốc số 34 đường Hà Nội - Hòa Bình và đặt tên là cầu Mỗ Hội (nay là cầu Mai Lĩnh trên tuyến quốc lộ 6). Năm 1916 làm lại mặt cầu Hà Đông (nay là cầu Đơ Hội) bằng bích long. Năm 1918 mở rộng và sửa lại đường Hà Nội đi Hòa Bình. Cũng trong thời gian này, Pháp cho lập nhà trường Pháp - Việt, làm lại dinh quan tổng đốc, lập Trường Thư ký tỉnh, xây các nhà thờ huyện Phú Xuyên, Thanh Trì, Thường Tín và Hoài Đức.

    Năm 1904, lập chợ Hà Đông. Chợ Hà Đông vốn là chợ làng Đơ xây ba dãy cầu gạch lợp ngói song song với nhau tồn tại mãi đến những năm 80 của thể kỷ XX khi xây 3 nhà chợ lớn lợp mái tôn. Khu vực chợ gia súc mở năm 1904 nay là khu vực Ngân hàng nông nghiệp, Đài phát thanh truyền hình thành phố, Viện Kiểm sát nhân dân quận, Trường Mỹ nghệ sơn mài thành phố Hà Nội.

    Năm 1910 lập nhà thương ở tỉnh lỵ. Năm 1914, xây dựng nhà thờ Thiên Chúa giáo, đây là công trình kiến trúc có niên đại sớm nhất thị xã Hà Đông hiện còn tồn tại. Năm 1918 lập thêm nhà hộ sinh ở nhà thương và trong tỉnh lại đặt ra 19 nhà trạm nữa.

    Với hạ tầng kiến trúc tương đối hoàn thiện, Hà Đông là một tỉnh lỵ khá phát triển với những khu phố sầm uất. Vào khoảng những năm 1920, dân số của thị xã có 261 (chưa rõ số người hay suất đinh, nhưng có thể xác định là 261 suất đinh) bao gồm 50 có tên trong sổ hộ tịch và 211 không hộ tịch. Nếu đúng con số 261 là suất đinh thì so với năm 1904 (năm thành lập tỉnh lỵ Hà Đông thì con số suất đinh từ 36) đã tăng lên 261 vào năm 1920. Đó là sự tăng tiến hợp lý và thích hợp trong quá trình hình thành và phát triển Hà Đông ngày ấy. Trước năm 1945 thị xã Hà Đông có rạp Sinel Majestic, có rạp hát Thiêm Xuân Đài nằm ở đại lộ Doumer Bert (dựa theo tên của toàn quyền Đông Dương Paul Doumer và Paul Bert) và nay là nhà thi đấu Hà Đông trên đường Quang Trung.

    Hà Đông trong thời gian 1954 - 1975

    Năm 1965, 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây được sáp nhập lại thành tỉnh Hà Tây, và thị xã Hà Đông trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tây[3].

    Ngày 15 tháng 9 năm 1969, chuyển xã Kiến Hưng thuộc huyện Thanh Oai và xã Văn Khê thuộc huyện Hoài Đức vào thị xã Hà Đông.[4]

    Từ sau 1975 đến nay

    Từ ngày 27 tháng 12 năm 1975, Hà Tây và Hòa Bình sáp nhập thành tỉnh Hà Sơn Bình. Thị xã Hà Đông trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Hà Sơn Bình, gồm 3 phường: Nguyễn Trãi, Quang Trung, Yết Kiêu và 5 xã: Hà Cầu, Kiến Hưng, Văn Khê, Vạn Phúc, Văn Yên.[5]

    Theo Nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp thứ 4 (khoá VI) ngày 29 tháng 12 năm 1978[6] và Quyết định số 49-CP[7] của Hội đồng Chính phủ ngày 17 tháng 2 năm 1979 về việc điều chỉnh địa giới của một số xã, thị trấn của thành phố Hà Nội, thị xã Hà Đông cùng một số đơn vị hành chính của tỉnh Hà Sơn BìnhVĩnh Phú được sáp nhập vào Hà Nội (thuộc Hà Sơn Bình có 6 huyện, thị sáp nhập gồm Ba Vì, Sơn Tây, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức). Tuy nhiên, trên thực tế, thị xã Hà Đông vẫn thuộc tỉnh Hà Sơn Bình và là tỉnh lỵ. Tình trạng này vẫn duy trì cho đến năm 1991.

    Sau khi chia tách tỉnh Hà Sơn Bình, tái lập tỉnh Hà Tây, tỉnh Hòa Bình, Hà Đông trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Hà Tây như cũ.[8]

    Ngày 23 tháng 6 năm 1994, chia xã Văn Yên thành 2 phường: Văn Mỗ và Phúc La.[9]

    Ngày 23 tháng 9 năm 2003, chuyển 2 xã Vạn Phúc và Hà Cầu thành 2 phường tương ứng; chuyển xã Yên Nghĩa thuộc huyện Hoài Đứcvà 2 xã Phú Lương, Phú Lãm thuộc huyện Thanh Oai về thị xã Hà Đông quản lý.[10]

    Ngày 1 tháng 4 năm 2006, chuyển 2 xã Biên Giang, Đồng Mai thuộc huyện Thanh Oai và xã Dương Nội thuộc huyện Hoài Đức vào thị xã Hà Đông.[11]

    Ngày 27 tháng 12 năm 2006, thị xã Hà Đông chính thức trở thành thành phố Hà Đông.[12]

    Ngày 1 tháng 3 năm 2008, chia phường Văn Mỗ thành 2 phường: Văn Quán và Mộ Lao; chia xã Văn Khê thành 2 phường: La Khê và Phú La.[13]

    Từ đó, thành phố Hà Đông có 11 phường: Hà Cầu, La Khê, Mộ Lao, Nguyễn Trãi, Phú La 1, Phú La 2, Phúc La, Quang Trung, Vạn Phúc, Văn Quán, Yết Kiêu và 7 xã: Biên Giang, Đồng Mai, Dương Nội, Kiến Hưng, Phú Lãm, Phú Lương, Yên Nghĩa.

    Ngày 1 tháng 8 năm 2008, cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúcvà 4 xã: Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân, Đông Xuân thuộc huyện thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, thành phố Hà Đông được sáp nhập vào thành phố Hà Nội.[14]

    Ngày 8 tháng 5 năm 2009, Chính phủ Việt Nam ra nghị quyết thành lập quận Hà Đông trực thuộc thủ đô Hà Nội trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thành phố Hà Đông, gồm 17 phường: Biên Giang, Đồng Mai, Dương Nội, Hà Cầu, Kiến Hưng, La Khê, Mộ Lao, Nguyễn Trãi, Phú La, Phú Lãm, Phú Lương, Phúc La, Quang Trung, Vạn Phúc, Văn Quán, Yên Nghĩa, Yết Kiêu.[15] Từ đó, Hà Đông trở thành quận nội thành thứ 10 của thủ đô.
     
  12. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Đối Đáp images (1).

    Trong giờ sinh học, thầy giáo đang giảng bài thì có hứng và ra 1 vế đối:
    "Con bò cạp cạp con bò cạp, cạp đúng chỗ bò mà bò đúng chỗ cạp"

    Một học sinh ấp úng, thầy mời đứng dậy, cậu học trò đối :
    "Thầy sinh vật vật cô sinh vật, vật đúng chỗ sinh mà sinh đúng chỗ vật"

    Thầy đỏ mặt tía tai, một học trò khác tiếp lời:
    "Anh tiểu thương thương chị tiểu thương, thương đúng chỗ tiểu mà tiểu đúng chỗ thương"

    Anh học trò khác thêm vào chút xíu:
    "Anh cà phê cà chị cà phê, cà đúng chỗ phê mà phê đúng chỗ cà"

    Đối đáp quá chuẩn phải không các bác?
     
  13. Tào Ngụy

    Tào Ngụy Dân đen

    Hà Tây Quê Lụa
     
  14. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    kbai. Văn Hóa Lịch Sử Huyện Thanh Oai { Hà Tây}Từ thời đại Hùng Vương, Thanh Oai đã là trung tâm của nhà nước Văn Lang[cần dẫn nguồn].

    Vào triều vua Lý Cao Tông (1176- 1210), năm 1207 địa hương Thanh Oai đổi là huyện Thanh Oai. Như vậy, tính tới năm 2007, huyện Thanh Oai đã có lịch sử hình thành 800 năm.

    Năm 1831, vua Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội. Huyện Thanh Oai lúc đó thuộc phủ Ứng Hòa của tỉnh Hà Nội. Phủ Ứng Hòa lúc đó gồm 4 huyện là Sơn Minh, Chương Đức, Thanh Oai và Hoài An.

    Năm 1888, Pháp lập ra tỉnh Hà Đông và lúc đó huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Đông. Thời gian 1949 - 1954 Thanh Oai thuộc quận Văn Điển dưới chính quyền Quốc gia Việt Nam.

    Ngày 4 tháng 1 năm 1955, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Nghị định số 436-TTg giải tán quận Văn Điển do Quốc gia Việt Nam lập ra trong thời gian bị tạm chiếm trả lại cho tỉnh Hà Đông để tổ chức lại hai huyện Thanh Oai và Thanh Trì.

    Ngày 20 tháng 4 năm 1961, Kỳ họp thứ 2 - Quốc hội khóa II thông qua Nghị quyết phê chuẩn mở rộng thành phố Hà Nội lần thứ nhất. Theo đó, sáp nhập phần lớn các xã thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông vào thành phố Hà Nội.[1]

    Ngày 25 tháng 4 năm 1961, hai xã Đại Hưng và Tam Khê được hợp nhất thành một xã lấy tên là xã Tam Hưng.[2]

    Ngày 17 tháng 5 năm 1961, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 70-CP sáp nhập các xã, các thôn còn lại của huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông vào các huyện Thường Tín, Thanh Oai và thị xã Hà Đông. Theo đó, 4 xã: Kiến Hưng, Mỹ Hưng, Cự Khê, Hữu Hòa được sáp nhập vào huyện Thanh Oai.

    Ngày 21 tháng 4 năm 1965, tỉnh Hà Tây được thành lập theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trên cơ sở hợp nhất 2 tỉnh Sơn Tây và Hà Đông. Theo đó, huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Tây gồm 26 xã: Bích Hòa, Biên Giang, Bình Minh, Cao Dương, Cao Viên, Cự Khê, Dân Hòa, Đỗ Động, Đồng Mai, Hồng Dương, Hữu Hòa, Kiến Hưng, Kim An, Kim Thư, Liên Châu, Mỹ Hưng, Phú Lãm, Phú Lương, Phương Trung, Tam Hưng, Tân Ước, Thanh Cao, Thanh Mai, Thanh Thùy, Thanh Văn, Xuân Dương.[3]

    Ngày 15 tháng 9 năm 1969, sáp nhập xã Kiến Hưng vào thị xã Hà Đông.[4]. Huyện Thanh Oai còn lại 25 xã: Bích Hòa, Biên Giang, Bình Minh, Cao Dương, Cao Viên, Cự Khê, Dân Hòa, Đỗ Động, Đồng Mai, Hồng Dương, Hữu Hòa, Kim An, Kim Thư, Liên Châu, Mỹ Hưng, Phú Lãm, Phú Lương, Phương Trung, Tam Hưng, Tân Ước, Thanh Cao, Thanh Mai, Thanh Thùy, Thanh Văn, Xuân Dương.

    Ngày 27 tháng 12 năm 1975, Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa V thông qua Nghị quyết hợp nhất 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Theo đó, huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Sơn Bình.[5]

    Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI thông qua Nghị quyết phê chuẩn việc sáp nhập một số huyện, thị xã và thị trấn của tỉnh Hà Sơn Bình vào thành phố Hà Nội.[6]

    Ngày 17 tháng 2 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 49-CP về việc điều chỉnh địa giới một số xã, thị trấn của Hà Nội. Theo đó, sáp nhập xã Hữu Hòa vào huyện Thanh Trì.[7] Huyện Thanh Oai còn lại 24 xã: Bích Hòa, Biên Giang, Bình Minh, Cao Dương, Cao Viên, Cự Khê, Dân Hòa, Đỗ Động, Đồng Mai, Hồng Dương, Kim An, Kim Thư, Liên Châu, Mỹ Hưng, Phú Lãm, Phú Lương, Phương Trung, Tam Hưng, Tân Ước, Thanh Cao, Thanh Mai, Thanh Thùy, Thanh Văn, Xuân Dương.

    Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII thông qua Nghị quyết chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây. Lúc này huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Tây.[8]

    Ngày 23 tháng 6 năm 1994, thành lập thị trấn Kim Bài trên cơ sở một phần diện tích và nhân khẩu của 2 xã Kim An, Đỗ Động.[9] Huyện Thanh Oai có thị trấn Kim Bài và 24 xã: Bích Hòa, Biên Giang, Bình Minh, Cao Dương, Cao Viên, Cự Khê, Dân Hòa, Đỗ Động, Đồng Mai, Hồng Dương, Kim An, Kim Thư, Liên Châu, Mỹ Hưng, Phú Lãm, Phú Lương, Phương Trung, Tam Hưng, Tân Ước, Thanh Cao, Thanh Mai, Thanh Thùy, Thanh Văn, Xuân Dương.

    Ngày 23 tháng 9 năm 2003, chuyển 2 xã Phú Lương và Phú Lãm về thị xã Hà Đông quản lý.[10]. Huyện Thanh Oai còn lại thị trấn Kim Bài và 22 xã: Bích Hòa, Biên Giang, Bình Minh, Cao Dương, Cao Viên, Cự Khê, Dân Hòa, Đỗ Động, Đồng Mai, Hồng Dương, Kim An, Kim Thư, Liên Châu, Mỹ Hưng, Phương Trung, Tam Hưng, Tân Ước, Thanh Cao, Thanh Mai, Thanh Thùy, Thanh Văn, Xuân Dương.

    Ngày 4 tháng 1 năm 2006, sáp nhập một phần diện tích và dân số của thôn Phượng Bãi, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ vào xã Biên Giang. Chuyển 2 xã Biên Giang và Đồng Mai về thành phố Hà Đông quản lý.[11] Như vậy, huyện Thanh Oai có thị trấn Kim Bài và 20 xã: Bích Hòa, Bình Minh, Cao Dương, Cao Viên, Cự Khê, Dân Hòa, Đỗ Động, Hồng Dương, Kim An, Kim Thư, Liên Châu, Mỹ Hưng, Phương Trung, Tam Hưng, Tân Ước, Thanh Cao, Thanh Mai, Thanh Thùy, Thanh Văn, Xuân Dương.

    Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, giải thể toàn bộ tỉnh Hà Tây theo Nghị quyết của Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII ngày 29 tháng 5 năm 2008. Theo đó, huyện Thanh Oai thuộc Hà Nội.[12
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 24/5/19
  15. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Văn Hóa ,Lịch Sử Trung_Liệt_miếu. Huyện Ứng Hòa
    Huyện Ứng Hòa nguyên là phủ Ứng Thiên đời nhà Lê thuộc trấn Sơn Nam. Năm Gia Longthứ 13 (năm 1814) phủ Ứng Thiên đổi tên là phủ Ứng Hòa.

    Năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1831), khi tỉnh Hà Nội được thành lập, Ứng Hòa là một trong bốn phủ của tỉnh Hà Nội. Phủ Ứng Hòa gồm các huyện Sơn Minh sau đổi thành Sơn Lãng, Chương Đức (sau đổi thành Chương Mỹ), Thanh OaiHoài An.

    Năm 1888, khi tỉnh Hà Đông được thành lập, phủ Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Đông.

    Năm 1891, thành lập phủ Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Đông, bao gồm huyện Yên Đức, Chương Mỹ và Sơn Lãng.

    Sau Cách mạng tháng Tám thành công, huyện Sơn Lãng đổi tên là huyện Ứng Hòa, huyện Yên Đức đổi tên là huyện Mỹ Đức.

    Ngày 21 tháng 4 năm 1965, tỉnh Hà Tây được thành lập theo Nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông.[1]

    Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây gồm thị trấn Vân Đình và 29 xã là Cao Thành, Đại Cường, Đại Hùng, Đội Bình, Đông Lỗ, Đồng Tiến, Đồng Tân, Hòa Lâm, Hòa Nam, Hòa Phú, Hoa Sơn, Hòa Xá, Hồng Quang, Kim Đường, Liên Bạt, Lưu Hoàng, Minh Đức, Phù Lưu, Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Sơn Công, Tân Phương, Tảo Dương Văn, Trầm Lộng, Trung Tú, Trường Thịnh, Vạn Thái, Viên An, Viên Nội.

    Ngày 27 tháng 12 năm 1975, kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa 5 thông qua Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Hà TâyHòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Sơn Bình.[2]

    Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ chín Quốc hội khóa 8 thông qua Nghị quyết chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hòa BìnhHà Tây. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây.

    Ngày 23 tháng 9 năm 2003, Chính phủ ra Nghị định số 107/2003/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị trấn Vân Đình thuộc huyện Ứng Hòa. Theo đó, sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Tân Phương và một phần diện tích và dân số các xã Liên Bạt, Phương Tú, Vạn Thái vào thị trấn Vân Đình.[3]

    Sau khi điều chỉnh, huyện Ứng Hòa gồm 29 đơn vị hành chính gồm thị trấn Vân Đình và 28 xã: Cao Thành, Đại Cường, Đại Hùng, Đội Bình, Đông Lỗ, Đồng Tiến, Đồng Tân, Hoa Sơn, Hòa Lâm, Hòa Nam, Hòa Phú, Hòa Xá, Hồng Quang, Kim Đường, Liên Bạt, Lưu Hoàng, Minh Đức, Phù Lưu, Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Sơn Công, Tảo Dương Văn, Trầm Lộng, Trung Tú, Trường Thịnh, Vạn Thái, Viên An, Viên Nội.

    Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội theo Nghị quyết của kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa 12 ngày 29 tháng 5 năm 2008. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc Hà Nội.[4]


    Các đơn vị hành chính

    Đặc điểm địa hìnhSửa đổi

    Nhìn chung, địa hình của Ứng Hòa tương đối bằng phẳng. Sông Đáy là phân giới tự nhiên phía tây của huyện, đồng thời cũng là giao tuyến phân chia địa hình núi đá vôi với đồng bằng chiêm trũng. Riêng 2 xã Đội Bình và Hồng Quang thì mỗi xã có một thôn nằm trong vùng địa hình núi đá vôi.

    Ứng Hòa có hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh tưới tiêu cho hầu hết diện tích sản xuất nông nghiệp của huyện. Nguồn nước được lấy từ hai con sông chảy qua huyện là sông Đáy và sông Nhuệ. Tuy nhiên, mấy năm gần đây 2 sông này đã bị ô nhiễm nguồn nước do các công trình công nghiệp thải trực tiếp ra sông, đặc biệt là sông Nhuệ.

    Giao thông - Du lịch và Tượng Đài lịch sử là tới cầu rục KTXH Bắc Nam từ Phúc Thọ nghề khảm trai Cao Xá Khu Cháy anh hùng vẫn còn lưu giữ những hiện vật của giai đoạn gian khổ đó.


    Thời tiết - Khí hậu

    Trường trung học phổ thông

    Danh nhân Ứng Hòa

    Tình hình kinh tế-xã hội

    Di tích lịch sửSửa đổi

    Điều đặc biệt ở Ứng Hòa là có nhiều di tích lịch sử văn hóa lâu đời và nổi bật hơn cả là hệ thống các di tích về thời Đinh, thờ Đinh Bộ Lĩnh và các vị tướng có công đánh dẹp loạn 12 sứ quân. Tiêu biểu như:

    • Đình Trạch Xá và Đền Tổ nghề may ở xã Hòa Lâm thờ Tứ phi Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen, là người có công phát triển truyền dạy nghề may trong cung đình Hoa Lư nên được hậu thế tôn vinh là Bà tổ nghề may.
    • Đền Bách Linh ở xã Hòa Nam thờ Đinh Tiên Hoàng Đế cùng bài vị 99 vị thần của 2 huyện Mỹ Đức và Ứng Hòa. Đền Bách Linhcó vai trò như một đền Hàng Tổng, có từ thời Đinh.
    • Đền Phù Lưu ở xã Phù Lưu thờ Không Bảng đaị vương triều Đinh, có công giúp Vua Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp loạn 12 sứ quân.
    • Đền Không Thần ở xã Lưu Hoàng thờ Cao Quang Vương, vị tướng nhà Đinh có công giúp Vua dẹp loạn 12 sứ quân, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt. Thời 12 sứ quân, Một đồn binh của Đinh Bộ Lĩnh đã đóng tại Kẻ Hóp (Ngoại Hoàng). Sau khi tướng lĩnh hy sinh người dân làng Ngoại Hoàng đã thờ ông là Thành Hoàng làng.
    • Đình Quảng Nguyên ở xã Quảng Phú Cầu thờ Đống Củ Đại vương, là tướng tài danh của Đinh Tiên Hoàng Đế.[5] Đình Quảng Nguyên là di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng về giá trị lịch sử và kiến trúc nghệ thuật.
    • Đình Thanh Dương ở xã Đồng Tiến, Ứng Hòa, Hà Nội thờ Vua Lê Đại Hành và các hoàng tử con vua có từ Thời Lý
    • Đình Động Phí ở xã Phương Tú thờ Bạch Tượng, vị tướng tham gia dẹp loạn 12 sứ quân. Thần tích, thần phả ở đình làng Động Phí cho biết Đinh Điền, Nguyễn Bặc có về đây thu nạp lực lượng Bạch Tượng gồm 500 quân lính.
    • Đình Ngọc Động ở xã Phương Tú Thờ Bạch Địa, tướng nhà Đinh tham gia dẹp loạn 12 sứ quân
    • Đình Nguyễn Xá ở xã Phương Tú Thờ Đô Đài, tướng nhà Đinh tham gia dẹp loạn 12 sứ quân
    • Đình Hòa Xá ở xã Hòa Xá thờ Nguyễn Đức Chính là vị tướng có công dẹp loạn 12 sứ quân, đã được Đinh Tiên Hoàng phong làm tả đạo Tướng quân.
    • Đền Vân Đình ở thị trấn Vân Đình, Ứng Hòa [6]
    • Đình Thượng ở xã Vân Đình thờ người anh cả trong ba anh em trai người trang Vân Đình đã mộ binh theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Làng Vân Đình hình thành từ thời Đinh, với tên gọi ban đầu là Kẻ Đinh, sau tránh họ Vua đổi san Kẻ Đình.
    • Đình Nhì ở Vân Đình thờ người thứ hai trong ba anh em trai trang Vân Đình đã mộ binh theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân.
    • Đình Ba ở Vân Đình thờ người em út trong ba anh em trai trang Vân Đình, có tên hiệu Mộc Hoàn Cư Sĩ đã mộ binh theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân.
    • Đình Thanh Ấm ở Vân Đình thờ Minh Phúc Đại Vương đã đi theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân.
    • Quán Lục Sĩ ở Vân Đình thờ Minh Phúc Đại Vương và võ sư Trương Ma Ni theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân. Trương Ma Ni có con trai Trương Quán Sơn là phò mã nhà Đinh.
    • Đền Thánh Cả ở xã Hồng Quang [7] cho biết khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân đã đến làng Hữu Vĩnh hạ trại làm lễ cầu nguyện được Thần báo mộng âm phù giúp ông dẹp giặc. Sáng hôm sau, Vua chọn 12 thanh niên trai tráng của làng Hữu Vĩnh xung vào đội quân. Từ đó đánh đến đâu thắng đến đấy. Nhà vua sắc phong "Thượng đẳng thần" cùng mỹ tự. Ngày 11 tháng giêng hàng năm, nhà vua xa giá về đây hành lễ. Từ đó, ngày 10, 11, 12 tháng giêng trở thành ngày hội lớn của nhân dân địa phương. Kỳ lễ tế vua Đinh, tưởng niệm vua Đinh hiện nay được đân làng tổ chức tế lễ 1 ngày (đầu tháng 2).
    • Đình Phí Trạch ở xã Phương Tú thờ sứ quân Ngô Xương Xí.
     
  16. thuathithoi21

    thuathithoi21 Hội Chắn Hà Tây

    Chuyện là thế này nhà em có nuôi một con .Con này mẹ em mua về nuôi cũng lâu lắm rồi , trước kia nhà em có tận hai con.Một con màu đen một con màu trắng con đen thì rất hay thích bắt chuột bắt rắn.Chính vì sở thích bắt và bắt rắn ấy, mà vào một ngày mưa giông bão bùng con đen nhà em đã giao đấu với 1 con rắn hổ mang. Hai con giao đấu với nhau kịch liệt và phần thắng đã thuộc về con chó đen nhà em.Nhưng con rắn ấy nó cũng bổ cho con chó đen nhà em một nhát do bị dính kịch độc thế là con chó đen nhà em nó đã ra đi trong một ngày giông bão.
    Chỉ còn lại 1 con con chó này nhà em nó có đặc điểm là mưa to sấm sét là nó rất sợ và sở thích của nó khi bị sấm chớp là rất thích gặm đồ vật đặc biệt là thích gặm xe máy.
    Đã có lần em gọi lái rồi nhưng họ chê già không mua. Vậy là lại phải nuôi nó và thế là nó lại gặm . Và đêm qua sau một đêm mưa gió bão bùng nó đã xơi cái xe của em. Theo ae bây giờ phải làm thế nào?
     
  17. trai nguyenbac

    trai nguyenbac Hội Phó - Trưởng Ban Tài Chính Hội Chắn Hà Tây

    Người làm sao của chiêm bao la là vậy.....
     
  18. Yeu Thương Xóm Đình

    Yeu Thương Xóm Đình Hội Chắn Hà Tây

    Cho em hỏi xíu. Sao ko vào diễn đàn của Hội để dk HTQL tháng 6 dc ạ?
     
  19. Đây là nơi BTC đăng bài, lịch thi đấu và kết quả .. Mọi thông tin đăng ký , bạn vào trang fb gruop HCHT để BTC dễ tổng hợp.
    Thanks bạn !!!
     
  20. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Văn Hóa Lịch Sử Huyện Phú Xuyên 70931059. 2b3c806ed52f3c71653e. dong ho antt.
    Đời Trần, huyện có tên là Phù Lưu, vào thời Lê sơ đổi thành Phù Vân, sau lại đổi thành Phù Nguyên. Đến đời nhà Mạc, vì kỵ húy vua Mạc Phúc Nguyên nên đã đổi thành Phú Xuyên. Năm 1831 vua Minh Mạng đặt ra cấp tỉnh , huyện Phú Xuyên thuộc phủ Thường Tín tỉnh Hà Nội Năm 1888, tỉnh Cầu Đơ (sau này là Hà Đông) được thành lập, huyện Phú Xuyên được cắt sang thuộc tỉnh Hà Đông. Khi Hà Đông sáp nhập với Sơn Tây, Phú Xuyên thành tỉnh Hà Tây, sau đó khi Hà Tây sáp nhập với Hòa Bình thì Phú Xuyên thuộc Hà Sơn Bình, khi Hà Sơn Bình tách ra thì Phú Xuyên lại thuộc tỉnh Hà Tây. Từ ngày 1-8-2008, theo quy hoạch mở rộng địa giới hành chính thủ đô, toàn bộ tỉnh Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội, huyện Phú Xuyên thuộc Hà Nội.

    Huyện Phú Xuyên khi đó gồm có 27 xã: Bạch Hạ, Châu Can, Chuyên Mỹ, Đại Thắng, Đại Xuyên, Hoàng Long, Hồng Minh, Hồng Thái, Khai Thái, Liên Hòa, Minh Tân, Nam Phong, Nam Triều, Phú Túc, Phú Yên, Phúc Tiến, Phượng Dực, Quang Lãng, Quang Trung, Sơn Hà, Tân Dân, Thụy Phú, Tri Thủy, Tri Trung, Văn Hoàng, Văn Nhân, Vân Từ.

    Ngày 6-9-1986, chuyển xã Liên Hòa thành thị trấn Phú Xuyên - thị trấn huyện lị huyện Phú Xuyên; thành lập thị trấn Phú Minh từ một phần xã Văn Nhân[1].

    Từ đó, huyện có 2 thị trấn và 26 xã, giữ ổn định cho đến nay.


    Địa lýSửa đổi

    Huyện Phú Xuyên là đơn vị hành chính cấp huyện của Thủ đô, nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 40 km; phía Bắc giáp huyện Thường Tín; phía Tây giáp huyện Ứng Hòa; phía Nam giáp huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; phía Đông giáp sông Hồng và huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

    Với diện tích đất tự nhiên 17.104,6ha; trong đó, đất canh tác trồng trọt là 11.329,9ha chiếm 66,24%; đất ở 1.120,9ha chiếm 6,95%; đất chuyên dùng chiếm 3.235,9ha chiếm 18,92%; còn lại là đất chưa sử dụng. Phú Xuyên là huyện trũng nhất của tỉnh Hà Tây, có sông Nhuệ chảy từ bắc xuống Nam. Trước đây Phú Xuyên là vùng đất trũng, có cốt đất thấp so với một số đơn vị lân cận, phía Đông cao hơn phía Tây, nên về mùa mưa bão hay bị ngập úng, lụt lội. Một số xã giáp sông Hồng có đất pha cát, còn gọi là đất màu, diện tích khoảng 2000 ha.

    Trên địa bàn huyện có trên 30 km sông chảy qua đó là sông Hồng, sông Nhuệ, sông Duy Tiên, sông Lương, sông Vân Đình. Phú Xuyên cũng có hệ thống giao thông rất thuận lợi, có tuyến đường sắt Bắc-Nam dài gần 12 km chạy qua, tuyến đường thủy sông Hồng dài 17 km, tuyến đường cao tốc Pháp Vân-Cầu Giẽ dài 7 km, điểm đầu đường Cầu Giẽ-Ninh Bình, đường Quốc lộ 1A dài 12 km trên địa bàn huyện, đó là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế-xã hội của Phú Xuyên.