GÓC CHÉM GIÓ

Thảo luận trong 'Hội Chắn Hà Tây' bắt đầu bởi Seo 1976, 5/4/19.

  1. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Truyện vui cuối tuần số một : i0vkKgKN3pXUIaCje_EuxMVEO2L6MAqVLqeZOEyCCmx4CeYRrDPp6ZtF1k-n2Yjq-6g=s300.
    Bố con thi tán gái

    Một ông bố nọ suốt ngày than vãn với con trai:

    – Mày kém quá, bằng ngần tuổi này rồi mà tao chẳng thấy mày có nổi một mối tình vắt vai. Thật không bằng tao ngày xưa.

    Thằng con bực mình gân cổ lên cãi:

    – Bố có giỏi thì ra đường tán thử xem. Con với bố thử đi ra đường, thi xem ai tán được các cô gái đổ trước nào?

    – Được, đi thì đi, tao mà lại sợ mày à.

    Hai bố con ra đầu ngõ thấy một cô gái xinh đẹp đi ngang qua. Cậu con trai buông lời tán:

    – Em à, em thật xinh đẹp, em có yêu anh không?

    Gặp đúng cô nàng đánh đá, cô này liền quay đầu chửi lại”

    – Yêu, yêu cái thằng bố mày.

    Ông bố thấy thế nhảy cẫng lên:

    – Thấy chưa, mày thua tao rồi nhé.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 27/5/19
  2. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Văn Hóa Lịch Sử Huyện Thường Tín.
    Thường Tín nguyên là tên của một phủ thuộc Trấn Sơn Nam từ thời Lê đến thời nhà Nguyễn. Thời đó Phủ Thường Tín thuộc tỉnh Hà Nội, sau thuộc tỉnh Hà Đông. Phủ Thường Tín bấy giờ bao gồm các huyện: Thanh Trì, Thượng Phúc (là Thường Tín ngày nay), Phú Xuyên.

    Ngày 21 tháng 4 năm 1965, huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Tây (hợp nhất 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây), gồm 32 xã: Chương Dương, Đại Áng, Dũng Tiến, Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, Hòa Bình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi, Liên Ninh, Liên Phương, Minh Cường, Nghiêm Xuyên, Ngọc Hồi, Nguyễn Trãi, Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Tả Thanh Oai, Tân Minh, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Văn Bình, Vạn Điểm, Văn Phú, Vân Tảo, Văn Tự.

    Ngày 29 tháng 12 năm 1975, huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Sơn Bình do hợp nhất 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình.

    Ngày 29 tháng 12 năm 1978, 4 xã ở phía bắc huyện Thường Tín là: Đại Áng, Liên Ninh, Ngọc Hồi, Tả Thanh Oai được sáp nhập vào huyện Thanh Trì. Huyện Thường Tín còn lại 28 xã: Chương Dương, Dũng Tiến, Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, Hòa Bình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi, Liên Phương, Minh Cường, Nghiêm Xuyên, Nguyễn Trãi, Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Tân Minh, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Văn Bình, Vạn Điểm, Văn Phú, Vân Tảo, Văn Tự.

    Ngày 19 tháng 3 năm 1988, thành lập thị trấn Thường Tín trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã Văn Bình, Văn Phú và Hà Hồi.

    Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Thường Tín trở lại thuộc tỉnh Hà Tây. Như vậy, huyện Thường Tín có 1 thị trấn và 28 xã, giữ ổn định đến nay.

    Ngày 1 tháng 8 năm 2008, cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Thường Tín được sáp nhập về thủ đô Hà Nội theo nghị quyết của Chính phủ Việt Nam
    Địa lý
    • Về đất đai đa phần diện tích đất đai là đồng bằng được bồi đắp bởi hai 2 dòng sông chính là sông Hồngsông Nhuệ.
    Di tích lịch sử
    Thường Tín thực sự là một vùng quê tươi đẹp với những di tích lịch sử nổi tiếng là:

    • Đình An Lãng ở xã Văn Tự, Thường Tín Hà Nội Thờ Vua Lê Đại Hành và các hoàng tử con vua.
    • Đền Vĩnh Mộ ở xã Nguyễn Trãi, Thường Tín Hà Nội thờ Hiển Ứng Linh Chương Tôn Thần thời 12 sứ quân, là vị tướng nhà Đinh có công giúp Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp 12 sứ quân.[1]
    • Chùa Đại Minh (Thôn Duyên Trường, xã Duyên Thái)
    • Đền Thờ Nguyễn Trãi ở xã Nhị Khê
    • Chùa Đậu ở xã Nguyễn Trãi
    • Đình thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung (xã Tự Nhiên bên dòng sông Hồng)
    • Chùa Mui (xã Tô Hiệu)
    • Đình Nghiêm Xá - Nghiêm Xuyên
    • Cụm di tích đình chùa Liễu Viên - Nghiêm Xuyên
    • Đình Cống Xuyên - Nghiêm Xuyên
    • Đền Đông Bộ Đầu (xã Thống Nhất)
    • Đình Là (Xã Tân Minh)
    • Lăng đá Quận Vân (xã Vân Tảo)
    • Bến và Đền, chùa Chương Dương (xã Chương Dương)
    • Khu đền Lộ, Xâm Dương, đền Sở, đền Dầm, đình chùa đền, lăng Bồ Tát Ninh Xá (xã Ninh Sở)
    • Đền, chùa, đình Vân Trai, Yên Phú (xã Văn Phú)
    • Đình Đan Nhiễm (xã Khánh Hà)
    • Đình Thượng Cung, Ngọc Động (xã Tiền Phong)
    • Chùa Pháp Vân (thôn Văn Giáp, xã Văn Bình)
    • Đình Bình Vọng, Chùa Văn Hội (xã Văn Bình)
    • Đình Vĩnh Lộc, Phú Mỹ (xã Thư Phú)
    • Đình Tự Nhiên, Bãi Nổi sông Hồng nơi Chử Đồng Tử gặp Tiên Dung...
    • Cụm di tích lịch sử văn hóa Đình - Chùa: Thôn Đống Chanh - xã Minh Cường images (1). IMG_5227.JPG
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 7/6/19
  3. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Văn Hóa Lịch Sử Huyện Mỹ Đức
    Huyện Mỹ Đức nằm ở phía tây nam Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 52 km theo đường Quốc lộ 21B.

    Địa giới hành chính huyện Mỹ Đức:

    Đây là một huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm ở phía nam của đồng bằng Bắc Bộ. phía nam là vùng núi đá vôi hang động Karst, có khu thắng cảnh chùa Hương. Huyện còn có hồ nước lớn là hồ Quan Sơn, nằm trên địa phận xã Hợp Tiến. Ở rìa phía đông có sông Đáychảy theo hướng từ Bắc xuống Nam sang tỉnh Hà Nam.

    Diện tích tự nhiên của huyện Mỹ Đức là 226,913 km² và dân số là 177.020 người (theo số liệu thống kê năm 2012).


    Lịch sử

    Huyện Mỹ Đức nguyên xưa là phần đất của hai huyện Yên Sơn, Mỹ Lương thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây và huyện Chương Đức, thuộc phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng. Đến năm Gia Long thứ 13 (1814), đổi sang phủ Ứng Hòa. Đến năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) chia huyện Chương Đức thành hai huyện Yên Đức, thuộc phủ Mỹ Đức và huyện Chương Mỹthuộc phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông.

    Sau năm 1945, huyện Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Đông.

    Ngày 21 tháng 4 năm 1965, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây hợp nhất thành tỉnh Hà Tây, huyện Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Tây.

    Ngày 27 tháng 12 năm 1975, huyện Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, gồm 22 xã: An Mỹ, An Phú, An Tiến, Bột Xuyên, Đại Hưng, Đại Nghĩa, Đốc Tín, Đồng Tâm, Hồng Sơn, Hợp Thanh, Hợp Tiến, Hùng Tiến, Hương Sơn, Lê Thanh, Mỹ Thành, Phù Lưu Tế, Phúc Lâm, Phùng Xá, Thượng Lâm, Tuy Lai, Vạn Kim, Xuy Xá.

    Ngày 19 tháng 3 năm 1988, thành lập thị trấn Tế Tiêu - thị trấn huyện lị huyện Mỹ Đức - trên cơ sở một phần diện tích tự nhiên và dân số của xã Đại Nghĩa.

    Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Hà Tây được tái lập từ tỉnh Hà Sơn Bình, huyện Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Tây.

    Ngày 8 tháng 1 năm 2004, hợp nhất thị trấn Tế Tiêu và xã Đại Nghĩa thành thị trấn Đại Nghĩa. Huyện Mỹ Đức có 1 thị trấn và 21 xã, giữ ổn định cho đến nay.

    Ngày 1 tháng 8 năm 2008, tỉnh Hà Tây bị giải thể, Mỹ Đức là một huyện của Hà Nội.



    Danh lam thắng cảnh

    [​IMG]
    Đền thờ Đinh Tiên Hoàng Đế ở xã Hợp Thanh, Mỹ Đức, Hà Nội
    • Khu thắng cảnh chùa Hương (Thiên Trù, suối Yến, động Hương Tích,...), nằm ở rìa phía tây nam huyện, ở địa phận xã Hương Sơn, giáp ranh giới với huyện Lạc Thủy.
    • Khu du lịch hồ Quan Sơn và nhiều hang động đẹp, đền, chùa mang tính chất lịch sử được nhân dân tôn tạo như chùa Hàm Rồng, chùa Cao,...
    • Khu thắng cảnh chùa Cao (Chùa hàm rồng...), nằm ở rìa phía tây huyện, ở địa phận xã Hồng Sơn, giáp ranh giới với huyện Kim Bôi.
    • Khu di tích đền thờ Đinh Tiên Hoàng Đế ở xã Hợp Thanh, Mỹ Đức, Hà Nội là nơi Đinh Bộ Lĩnh từng về tuyển quân lính để đánh dẹp loạn 12 sứ quân.

    Tam_quan_chùa_Hương. 250px-Chùa_Hương. y-nghia-le-hoi-chua-huong-3. thanhhuong-162329032315-chua-thien-chu.

     
  4. Lộc Phong Lan

    Lộc Phong Lan Tiêu Dao Hội

    Cho em bổ sung vào huyện Ứng Hoà 1 Đình nữa nhé. Có bác nào biết Đình này không ạ ?
    5D6562B8-F593-467E-B065-E40369593D9B.
     
  5. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Thư Giãn Cuối Tuần : i0vkKgKN3pXUIaCje_EuxMVEO2L6MAqVLqeZOEyCCmx4CeYRrDPp6ZtF1k-n2Yjq-6g=s300.
    [​IMG]
    Thầy giáo nói với sinh viên trong buổi thi vấn đáp:
    – Anh trượt rồi, cố gắng lần sau nhé.
    – Thầy cho em một cơ hội được không? Nếu thầy không trả lời được thì thầy cho em đỗ nhé?
    – Được rồi, anh hỏi xem.
    – Cái gì hợp pháp mà không hợp lý, hợp lý mà không hợp pháp, chả hợp lý cũng chả hợp pháp?
    – Thôi được rồi, anh đỗ, anh về đi.
    Thí sinh sau vào thầy hỏi:
    – Anh hãy cho tôi biết, cái gì hợp pháp mà không hợp lý, hợp lý mà không hợp pháp, không hợp lý cũng không hợp pháp?
    – Dạ, thưa thầy. Vợ thầy 20 tuổi trong khi thầy gần 60, điều đó hợp pháp nhưng không hợp lý. Vợ thầy vừa mới có bồ, anh ta 23 tuổi, điều đó hợp lý nhưng không hợp pháp. Và cuối cùng, thầy vừa cho bồ của vợ thầy đỗ trong khi anh ta đáng ra phải trượt, điều đó chẳng hợp lý mà cũng chẳng hợp pháp tí nào.

    – !!!
     
  6. sân đình 1688

    sân đình 1688 Hội Chắn Hà Tây

  7. sân đình 1688

    sân đình 1688 Hội Chắn Hà Tây

    :)):)):))=))=))
     
  8. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    NGÔI ĐỀN THIÊNG TRÊN ĐỈNH BA VÌ

    Núi Ba Vì được coi là ngọn núi tổ của nước Đại Việt. Dãy núi Ba Vì gồm có ba đỉnh nổi lên giữa đồng bằng Bắc bộ, bao gồm Đỉnh Vua cao 1.296m. Đỉnh Tản Viên cao 1.227m. Đỉnh Ngọc Hoa cao 1.131m.

    Đền thờ Bác Hồ được xây dựng trên đỉnh Vua nơi cao nhất của dãy núi Ba Vì.
    Đền Thờ Bác Hồ trên đỉnh Ba Vì

    Để lên được đền thờ Bác Hồ, từ chân núi Ba Vì, du khách phải đi ô tô leo dốc quanh co vượt quãng đường dài hơn 12km, tiếp đó, phải leo hơn 1.320 bậc thang đá bên vách núi. Tới đây du khách như lạc vào cõi thiêng, bởi được đi xuyên qua cánh rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ vút lên, mốc và rêu xanh bám phủ thân cây, dây leo chằng chịt, sương mù phủ giăng giăng mặc dù vẫn có mặt trời.

    Ngôi đền thiêng thờ Bác nằm ở độ cao 1.296 mét, là đỉnh cao nhất dãy Ba Vì. Chuyện kể rằng, sinh thời Bác Hồ muốn tro cốt của mình sau này khi qua đời sẽ được đặt ở ba địa điểm, trong đó có một nơi tại núi Ba Vì. Vì thế, ý tưởng xây một đền thờ Bác ở đây theo di nguyện của Người được nêu ra và ngay lập tức đã được hưởng ứng nhiệt liệt. Công trình tưởng niệm Bác được khởi công ngày 01/3/1999 và hoàn thành cuối tháng 8/1999. Người được vinh dự thiết kế ngôi đền là KTS Hoàng Phúc Thắng và người nhận trách nhiệm làm chủ nhiệm công trình là KTS Nguyễn Trực Luyện.
    Ngôi đền mang phong cách kiến trúc truyền thống có 8 mái đao uốn cong ở bốn phía, dựng trên những chiếc cột tròn trên chân đá tảng… Đền được xây dựng theo kết cấu bền vững, uy nghiêm. Chính điện là một không gian mở, không có cửa. Trên bệ thờ đá có bức tượng Bác Hồ đúc bằng đồng trong tư thế ngồi, phía trên là bức hoành phi ghi dòng chữ nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trên cao là cờ Tổ quốc ghép bằng đá hoa cương màu đỏ. Hai bên bệ thờ là chuông đồng và khánh đồng. Ngoài ra còn nhiều hạng mục công trình khác tạo nên một không gian hài hòa, tinh tế nhưng vẫn hết sức giản dị.

    Những hình ảnh và hiện vật về Bác được bày trang trọng tại đây làm ta càng nhớ tới Người. Trước Đền, một tấm bia đá lớn nguyên khối, mặt trước khắc một đoạn trong Điếu văn của BCH TƯ Đảng Lao động Việt Nam đọc trong lễ tang của Người năm 1969: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”. Mặt kia khắc bút tích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    Tấm bia đá nguyên khối khắc bút tích Di chúc của Bác và điếu văn của BCH TW Đảng Lao động Việt Nam đọc trong lễ tang của Người năm 1969.

    Ở bức tường đầu hồi của đền có hình trống đồng với hình bản đồ Việt Nam và dòng chữ màu vàng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi – Chủ tịch Hồ Chí Minh”.



    [​IMG]

    Hằng năm, cứ vào ngày 21/7/Âm lịch nhân dịp ngày Giỗ Bác Hồ, Đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ban ngành, đoàn thể cùng nhân dân cả nước về với nơi đây để làm giỗ Bác theo truyền thống của dân tộc Việt Nam.
    Thật xúc động đứng trên đỉnh núi Vua cao sững sững, dưới mây ngàn lộng gió, chiêm ngưỡng vẻ đẹp và chiêm nghiệm sự tâm linh, được ngắm hình ảnh thật gần gũi, bình dị và thanh cao của Chủ tịch HCM. Lên tới đây, con người ta tĩnh tâm hơn và càng thấm thía hơn về đạo đức, tác phong của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam để học tập theo tấm gương của Người
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 7/6/19
  9. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    truyencuoi1. Ông chồng sốt ruột đi đi, lại lại trước cửa phòng sinh.



    Lát sau, cô y tá mở cửa:

    - Con trai ông ạ, ông có thể vào được rồi.

    Ông chồng xúc động bước vào phòng chợt sửng sốt khi thấy đứa con trai mới sanh của ông đen thui như cột nhà cháy. Tái mặt, ông ngó bà vợ. Nét mặt bà vợ buồn bã trách ông:

    - Tại sao hễ cứ lên giường ngủ là là lo tắt đèn. Phòng ngủ thiếu ánh sáng tối thui thành thử con mình đẻ ra đâu có được trắng trẻo như con người ta.

    - !?!
     
  10. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    2014-06-22 08.45.25 (1). DSC_0410.JPG Thành cổ Sơn Tây
    [​IMG]
    Thành Sơn Tây, tháng 4 năm 1884, một trong 4 thành trong Thăng Long tứ trấn
    Thành Sơn Tây được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822) là tòa thành cổ được xây bằng đá ong của Việt Nam có tổng diện tích 16 ha với các kiến trúc độc đáo như: tường thành bằng đá ong, 4 cổng thành xây bằng gạch cổ. Đây là một trong số ít tòa thành dưới thời Minh Mạng còn lại đến ngày nay, thành được xây dựng kiên cố để bảo vệ vùng đất phía tây bắc Thăng Long.[1]

    Thành Sơn Tây đã được Bộ Văn hóa - Thông tin nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Namcông nhận là di tích lịch sử kiến trúc quốc gia năm 1994. Ngày nay, tòa thành này vẫn còn tồn tại ở trung tâm thị xã Sơn Tây, Hà Nội và trở thành một di tích lịch sử và kiến trúc quân sự.


    Địa thế

    Thời trước người ta coi trọng bốn vùng đất là phên giậu che chở cho Thăng Long và cũng là bàn đạp để triều đình có thể vươn xa ra vùng biên giới thường được gọi là Bốn trấn (bốn trọng trấn), gồm có: Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam. Đến thời Nguyễn, Sơn Tây vẫn được xếp là một trong bốn trọng trấn ở Bắc Kỳ, phía trong thì che chở, bảo vệ Bắc Thành, bên ngoài thì làm bàn đạp, làm hậu cứ để triều đình bảo vệ vùng biên cương ở thượng lưu sông Đà, sông Hồng, sông Lô, do đó nhà Nguyễn đặt Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên đóng tại thành Sơn Tây để giữ yên cả vùng rộng lớn Tây Bắc và Việt Bắc gồm 5 phủ, 24 huyện mà ngày nay bao gồm toàn bộ tỉnh Vĩnh Phúc cộng với huyện Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang, hầu như toàn bộ tỉnh Phú Thọvà hơn một nửa tỉnh Hà Tây.

    Do địa thế mà từ xa xưa lúc nào Sơn Tây cũng là hậu cứ, là bàn đạp cho vùng biên giới xa xôi. Nhiệm vụ này là do chính địa thế Sơn Tây so với vùng thượng du Tây Bắc và Bắc Kỳ quy định. Sơn Tây còn là vùng dân Việt sinh sống lâu đời, đông đúc, một vùng đất cơ bản của người Việt từ khi lập nước.


    Lịch sử

    [​IMG]
    Cột cờ và hồ nước, các công trình kiến trúc ngay phía sau cửa Tiền.
    Năm 1469, trấn sở Sơn Tây đóng ở làng La Phẩm tổng Thanh Lãng huyện Tiên Phong phủ Quảng Oai (nay thuộc xã Tản Hồng, huyện Ba Vì, Hà Nội), thời đó gọi là Sơn Tây Thừa Tuyên.

    Đến thời Lê Cảnh Hưng, trấn sở được dời về xã Mông Phụ, huyện Phúc Lộc, phủ Quảng Oai (nay thuộc Đường Lâm)

    Năm 1822, vua Minh Mạng cho xây thành theo kiến trúc Vô-băng, nằm giữa thị xã Sơn Tây, trên phần đất của hai làng cổ là Thuần Nghệ và Mai Trai, cách trung tâm Hà Nộikhoảng 42 km

    Thành cổ này, trong khoảng thập kỷ 70 - 80 của thế kỷ 19, là một trung tâm phòng bị kháng chiến chống Pháp của quan lại triều đình nhà Nguyễn (với những nhân vật lãnh đạo như: Hoàng Kế Viêm, Lưu Vĩnh Phúc,...) giữa hai cuộc xâm lược Bắc kỳ lần thứ nhất (1872) và lần thứ hai (1883) của Pháp. Thành thất thủ vào tay quân Pháp ngày 16 tháng 12năm 1883.

    Ngày 16 tháng 5 năm 1924, Toàn quyền Đông Dương đã ra nghị định xếp hạng di tích thành Sơn Tây và giao trường Viễn Đông Bác Cổ(nay là Viện Bảo tàng lịch sử trung ương Pháp) quản lý.

    Ngày 26 tháng 5 năm 1946, sau khi thăm Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn (lúc đó đóng ở khu vực Bến xe Sơn Tây ngày nay), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp mặt và nói chuyện với đồng bào ở thành cổ Sơn Tây.

    Tháng 12 năm 1946, một cuộc họp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã diễn ra ở đây.

    Ngày 15 tháng 10 năm 1994, Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định 2757QĐ/BT công nhận đây là Di tích lịch sử và kiến trúc.[2]


    Kiến trúc

    Theo thư tịch cổ, thành trì này có chu vi 326 trượng 7 thước (1306,8m), tường thành cao 1 trượng 1 thước (4,4m). Chu vi hào nước bao quanh thành là 448 trượng (1792m), rộng 6 trượng 7 thước (26,8m), sâu 1 trượng (4m).

    Trong hồi ký của Charles Edouard Hocquardmột bác sĩ trong quân đội viễn chinh Pháp đã tả lại thành Sơn Tây vào tháng 4 năm 1884 như sau:


    ...cách Sông Hồng khoảng 2 cây số. Thành có kiểu hình vuông, mỗi cạnh dài 500m. Một bức tường bao quanh, xây gạch cao 5m. Một cái hào đầy nước rộng khoảng 20m bao quanh thành lũy, hết hào nước là một con đường để đi tuần tra, ngăn cách giữa hào nước với tường thành. Những người An Nam gọi đường đó là đường voi (tượng đạo, đường để voi đi). Ở giữa bề mặt của mỗi bức tường thành có một nửa tháp hình bán nguyệt đường kính 30m, bố trí nhiều lỗ châu mai.


    — "Chiến dịch Bắc kỳ" (Une Campagne au Tonkin)
    Vị trí
    [​IMG]
    Bản đồ thành cổ Sơn Tây.
    Thành cổ Sơn Tây được kiến trúc theo kiểu Vauban (kiểu công trình quân sự lấy theo tên kỹ sư Vauban người Pháp), tường thành bằng đá ong chạy theo đường gãy khúc, nhưng tổng thể có hình vuông. Vị trí thành nằm ở khoảng tọa độ 21°08'11,11" - 21°08'28,76" vĩ bắc và 105°30'07,49" - 105°30'26,48" kinh đông.

    Thành nằm giữa thị xã Sơn Tây, trên phần đất của hai làng cổ là Thuần Nghệ và Mai Trai, cách trung tâm Hà Nội khoảng 42 km. Thành có 4 cửa quay ra các hướng Bắc (chính xác là hướng Bắc Đông Bắc), Nam, Tây, Đông, và lần lượt có tên là: cửa Hậu, cửa Tiền, cửa Hữu, cửa Tả. Trước đây bốn cửa đều có cầu gạch bắc qua hào nước, nhưng hiện nay chỉ có hai cửa chính là cửa Tiền và cửa Hậu, có cầu bắc qua hào nước, dẫn vào cổng thành. Trục kiến trúc chính của thành là trục nối hai cửa Tiền và Hậu, theo hướng Bắc Đông Bắc - Nam Tây Nam. Cửa Tiền nhìn ra phố Quang Trung. Cửa Hậu hướng ra phố Lê Lợi (nơi đặt trụ sở Ủy ban Nhân dân thị xã Sơn Tây), thẳng tới bờ sông Hồng. Cửa Tả nhìn ra chợ Nghệ (phố Phùng Khắc Khoan). Cửa Hữu hướng ra phố Trần Hưng Đạo (Đệ Nhị cũ), phố này nối với phố Ngô Quyền (Hữu Lợi cũ), chạy thẳng lên làng cổ Đường Lâm (theo đường quốc lộ 32).

    Cửa Hậu
    Cửa Hậu là cửa phía Bắc lệch Đông, hướng ra Sông Hồng theo con đường của phố Lê Lợi. Trước đây các cây cầu bắc qua hào đều bố trí vào vị trí của tháp và lệch với vị trí cổng thành để có lợi cho việc phòng thủ. Năm 1883 khi quân Pháp tấn công thành Cửa Hậu bị hư hại nặng. được Charles Edouard Hocquard mô tả lại trong hồi ký như sau: ... Với bức trán tường có những vành bằng tre, những phiến đá đen rêu phủ bị những mảnh pháo và những viên đạn rạch nát, cái cửa này có dáng oai nghiêm và dễ sợ của một người lính gác già bị tùng xẻo đến chết ở đây.[3]

    Trước năm 1995, cổng này vẫn còn giữ được nguyên thủy như những năm 1883; 1884 và có một cây đa đẹp nhất khu thành cổ. Thật tiếc là sau đó đã bị chặt bỏ để xây một cổng thành mới không phù hợp với không gian cổ xưa.

    • [​IMG]
      Cổng phía Bắc sau khi thất thủ (Ảnh chụp ngày 8 tháng 4 năm 1884)

    • [​IMG]
      Cửa Hậu (Bắc môn) được xây lại tháng 1 năm 1995
    Cửa Tiền
    Cửa Tiền là cổng phía Nam lệch Tây của thành Sơn Tây, nằm ở đầu phố Quang Trung ngày nay. Cây cầu bằng gạch bắc qua hào nước không được bố trí ngay trước cửa ra vào mà được xây dựng vào khoảng giữa tháp. Sau khi chiếm được thành, người Pháp đã cho mở một cửa mới ở ngay trước cầu để tiện đi lại, nhưng cổng cũ vẫn được giữ nguyên cho đến ngày nay

    • [​IMG]
      Cửa Tiền, cổng phía Nam sau khi thất thủ tháng 4 năm 1884, người Pháp cho mở cửa mới ngay trước cầu

    • [​IMG]
      Cửa Tiền thành Sơn Tây những năm Pháp chiếm đóng


    • Cửa Tiền (cổng phía Nam) thành cổ Sơn Tây vẫn giữ được đến ngày nay


    • Quang cảnh phía cửa Tiền thành Sơn Tây năm 2013.


    • Tường thành phía Nam thành cổ Sơn Tây.
    Cửa Hữu
    [​IMG]
    Tranh vẽ quân Pháp đánh cửa Tây thành Sơn trong trận Sơn Tây (1883).

    Cửa Hữu (phía Tây) thành cổ Sơn Tây do người Pháp cho xây lại

    Đường Tượng đạo phía tây thành cổ Sơn Tây.
    Cửa Hữu là cửa phía Tây lệch Bắc, hướng ra trường trung học phổ thông Sơn Tây cũ, nhà thi đấu Sơn Tây, phố Trần Hưng Đạo (Đệ Nhị cũ), phố này nối với phố Ngô Quyền (Hữu Lợi cũ), chạy thẳng lên làng cổ Đường Lâm. Trong trận Pháp đánh thành Sơn Tây (1883), Cửa Hữu đã bị đại bác của quân Pháp phá hủy hoàn toàn. Sau khi chiếm được thành, người Pháp cho xây lại để ngăn cản quân Cờ Đen tấn công trở lại.[3][4]

    Cửa Tả
    [​IMG]
    Cửa Tả tháng 4 năm 1884 (người chụp đứng trên cầu)

    Cảnh bờ hào thành cổ, vị trí thời xưa từng là cửa Tả (cổng phía đông) của thành.
    Cửa Tả là cổng thành phía Đông lệch Nam của thành cổ Sơn Tây, nhìn ra chợ Nghệ, bưu điện Sơn Tây, (phố Phùng Khắc Khoan). Cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước người ta chuyển chợ Nghệ vào họp tạm ở trong thành cổ, một chiếc cầu tạm được dựng lên. Có lẽ để tiện việc đi lại người ta đã phá hủy chiếc cổng này, nên hiện nay không còn.

    Thành nội
    Trong thành có các hạng mục kiến trúc: cột cờ (tức vọng lâu) cao 18m, cửa hành cung, hành cung, hai giếng vuông, phía trước khu nghi lễ (Hành Cung, sân, điện), gần với cửa Tiền. Điện ở đây từng là tòa nhà 5 gian hai chái, tám mái chồng diêm, nằm khoảng chính giữa thành, là nơi làm việc của các quan. Trong hồi ký của Charles Edouard Hocquardmột bác sĩ trong quân đội viễn chinh Pháp đã tả lại kiến trúc trong thành Sơn Tây vào tháng 4 năm 1884 khá chi tiết như sau:


    ... Bên trong, giữa thành có một tháp cao 18m (cột cờ). Còn lại là Hành cung, nhà ở của các quan tỉnh và kho lương. Phía trước tháp có 2 bể nước lớn hình vuông xung quanh xây gạch và lan can bảo vệ. Theo người ta nói lại, trước đây một bể chứa nước dùng cho quân đồn trú, còn một bể dùng nuôi cá phục vụ bữa ăn... Cửa đi vào bên trong tháp (cột cờ) đang mở, tôi lên trên đó để xem. Bên trong tháp có một cầu thang xoáy trôn ốc với khoảng 50 bậc bằng đá tảng. Cầu thang này được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời qua những cửa sổ tròn nhỏ, làm cho người ta có cảm giác như đang trèo lên tháp chuông nhà thờ ở làng xã chúng ta (ở Pháp)... nhấp nhô tám kho gạo dẫn vào hành cung. Hành cung nổi bật hẳn lên với hình bốn cạnh, mái hai tầng uốn cong, phần nhô ra được trang trí bằng những quái vật đầu sư tử mặt nhăn nhó ghép bằng những mảnh sứ xanh lơ gắn xi măng. Hành cung trông ra một sân rộng vuông vức, lát bằng những phiến đá rộng, mài nhẵn.[5] Lối vào sân có hai con sư tử được tạc với kích thước lớn như thật, đang đứng vươn mình trên những khối đá hoa cương màu xám trông rất đẹp. Để vào sân, người ta phải đi qua một hàng hiên đồ sộ hai tầng mái có trổ ba cửa và những gác chuông nhỏ cũng được trang trí nhiều hình tượng khác nhau bằng các mảnh sứ xanh lơ giống như một ngôi chùa....


    — "Chiến dịch Bắc kỳ" (Une Campagne au Tonkin)
    • [​IMG]
      Kiến trúc chính bên trong, nhìn từ trên cột cờ

    • [​IMG]
      Hành Cung được xây lại


    • Bên trong thành cổ Sơn Tây năm 2013.
     
  11. sân đình 1688

    sân đình 1688 Hội Chắn Hà Tây

    Cảm ơn XỨ ĐOÀI MÂY TRẮNG bài rất hay và bổ ích cho mọi người
     
    Seo 1976, thao96pb, Lệ Thủy 864 others thích điều này.
  12. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    truyencuoi1. Thịt người ngon lắm
    Cậu con trai hỏi mẹ: "Thịt người có ngon không hả mẹ?"
    - Không ai ăn thịt người bao giờ. Thịt người tanh lắm, kinh lắm. Ăn thịt người là dã man con ạ. - Người mẹ trả lời.
    Cậu con trai ngơ ngác thanh minh:
    - Thế tại sao sáng nay, khi thấy một cô mặc váy ngắn đi qua cửa bố lại bảo: "Trông ngon thế".
    - !!!!!!
     
    Ngụy Văn Đế, giadinh5t, Seo 19768 others thích điều này.
  13. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    . Ai phụ tôi có đất trời chứng giám
    Phận tôi nghèo, tôi không dám phụ ai
    Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài
    Ai dè giếng cạn, tiếc hoài sợi dây... nghingoi.
     
  14. cafedangct

    cafedangct Công Thần Hội Chắn Hà Tây

    HCHT1.
     
    Seo 1976, thao96pb, Lệ Thủy 864 others thích điều này.
  15. trai nguyenbac

    trai nguyenbac Hội Phó - Trưởng Ban Tài Chính Hội Chắn Hà Tây

    Ngày xửa ngày xưa đàn ông có cặp vú rất đẹp. Còn đàn bà thì phẳng lỳ như bàn bida. Một hôm, đàn bà đi ăn đám cưới, bèn tới nói với đàn ông:
    - Anh cho em mượn cặp vú để em mặc áo dài cho đẹp.
    Vốn tốt bụng và thương người, đàn ông không ngần ngại tháo cặp vú đưa cho đàn bà. Sau đó, đàn bà không giữ lời, không trả vú mà chiếm đoạt luôn. Đàn ông nộp đơn kiện để đòi tài sản là vú.
    Toà án thiên đình thụ lý sau 5 ngày nộp đơn. Không biết có bị chạy án hay không mà chủ toạ ông trời phán xử như sau :
    -Đàn bà phải giữ lại vú, nhưng phải cho đàn ông bú.
    Vì trời chỉ có một toà nên bản án chung thẩm có hiệu lực pháp lý ngay sau tuyên.
    Từ đó đàn ông tiếc nuối cặp vú của mình nên mỗi khi gặp đàn bà là y tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để bóp vú bằng được. Sự mân mê nào cũng có nỗi đau của nó. Van xin chị em đừng khắt khe tài sản từng là của đàn ông chúng tôi. FB_IMG_1559615993526.
     
    tamdohaile, Seo 1976, Đônga123459 others thích điều này.
  16. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Đình So 27941507019_da10af9415_b. 27941504149_4124deb73f_b. 24850970117_0cbf95ce2f_b.
    Thần tích đình So chép rằng: Vào mùa xuân năm Canh Thìn (930), có ông Cao Hiển và bà Lã Thị Ả ở hương Vạn Kỳ, huyện Gia Định, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc nhà vốn rất nghèo, làm nghề đánh cá trên sông. Hai ông bà rất thích làm việc thiện, một việc thiện dù nhỏ cũng làm. Một hôm hai ông bà chài lưới trên sông Như Nguyệt, kéo được 15 dật vàng. Từ đấy hai ông bà làm ăn cứ khấm khá mãi lên nên cuộc sống rất khá giả. Hiềm nỗi hai ông bà đã ngoài 50 tuổi mà vẫn chưa có con trai. Ông vẫn thường nói: Tiền rừng gạo bể mà không có con thì sống không được vui và bàn với bà đi tìm nơi cầu tự. Hai ông bà nghe nói ở đền Hữu Linh, trang Sơn Lộ là nơi linh ứng cầu gì được nấy, bèn cùng nhau sắm sửa lễ vật đến đó cầu tự. Sớm hôm sau ông bà làm lễ tạ rồi xuống thuyền cùng với hai người vạn chài xuôi dòng sông Đáy. Thuyền đang đi, trời bỗng nhiên tối sầm lại như đêm và một trận gió lớn ập đến. Lúc này thuyền chở ông bà đến địa phận trang Sơn Lộ, hai người ngẩng đầu nhìn lên trời thấy có đám mây vàng hướng vào bà mà hạ xuống. Lã thị hoảng sợ, nằm miên man. Sau đó bà có mang. Tháng 2 năm Quý Tỵ (933), bà sinh được 3 người con trai. Ba đứa trẻ lớn lên thành những chàng trai khoẻ mạnh rồi theo Đinh Tiên Hoàng đi dẹp loạn 12 sứ quân. Chiến công lớn được ghi lại của 3 ông là trận chiến với sứ quân Đỗ Cảnh Thạc vùng Đỗ Động. Khi vượt sông Thanh Quyết, các ông đánh thành Thường Vệ, vây thành Bảo Đà, đánh thành Quèn (xã Liêm Tuyết, Quốc Oai) rồi đóng đồn doanh ở Sơn Lộ Trang. Khi Đinh Bộ Lĩnh bị vây hãm ở Bối Khê, tình thế vô cùng nguy cấp, lập tức ba ông mang quân đi giải vây. Dân trang Sơn Lộ mang bún bánh ủng hộ, lại chọn 300 tráng đinh đi theo các ông làm thần tử. Vào trận, ba anh em tả xung hữu đột chém được chánh tướng Đỗ Thanh Long và hàng vạn sĩ tốt, giải thoát cho Đinh Bộ Lĩnh. Đinh Tiên Hoàng lên ngôi bèn sắc phong 3 ông là Tam vị Thông Hiện Nguyên soái Đại Vương. Trải qua các triều đại, Tam Thánh đều được sắc phong mỹ tự và cho trang Sơn Lộ đời đời thờ phụng.

    Có một truyền thuyết khác về 3 vị Thành hoàng làng với tên gọi Hiện Hồ, Thiên Gia, Mệnh Gia có công giúp vua Đinh Tiên Hoàngdẹp loạn 12 sứ quân. Theo truyền thuyết dân gian 3 ngài là con thủy thần ngày 8 tháng 2 âm lịch đầu thai sống cùng người phàm. Các ngài rất giỏi việc sông nước lại tinh thông võ nghệ vua Đinh trọng dụng giao cho nhiều trọng trách. Tướng quân Hiện Hồ được phong làm Chỉ huy sứ, Tướng Thiên Gia được phong làm Đô úy, Mệnh Gia tướng quân được phong làm Hiệu úy cầm quân dẹp loạn, nhiều lần có công cứu giá. Khi giặc tan, dân thái bình, 3 ngài cùng lâm bệnh và hóa về trời vào ngày mùng 10 tháng 12 âm lịch. Vua Đinh Tiên Hoàng vô cùng thương xót phong cho Hiện Hồ là “Đống Linh Thông hiệu Nguyên Súy Đại Vương”, Thiên Gia và Mệnh Gia phong làm “Nguyên Súy Đại Vương”.
     
  17. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Thủ đô Hà Nội là nơi có nhiều di tích thành cổ nhất nước ta, ngoài hai di tích thành cổ là Hoàng thành Thăng Long và Thành Cổ Loa nổi tiếng, còn có thành cổ Sơn Tây với lối kiến trúc độc đáo và cổ kính.



    Cách thủ đô Hà Nội 45km về phía tây, nằm ở vùng ngoại ô, Thành cổ Sơn Tây thuộc địa phận của cả hai làng cổ là Thuận Nghệ và Mai Trai thuộc thị xã Sơn Tây. Với lối kiến trúc độc đáo, được xây dựng từ đá ong có một không hai ở Việt Nam, Thành cổ Sơn Tây đã được vua Minh Mạng xây dựng và là một trong những khu căn cứ quân sự quan trọng, bảo vệ kinh thành Thăng Long xưa.



    [​IMG]

    Thành cổ Sơn Tây ngày nay - Ảnh: Sưu tầm



    [​IMG]

    Cột cờ (vọng lâu) trong thành cổ tháng 4 năm 1884 - Ảnh: Sưu tầm



    [​IMG]

    Cột cờ, Đoan môn và lư hương ngày nay - Ảnh: Sưu tầm



    Thành được xây theo cấu trúc hình tứ giác, mỗi bên dài khoảng 40m, tường thành cao khoảng 5m, rộng 4m được xây chủ yếu bằng đá ong xếp chồng lên nhau. Bốn hướng Nam, Bắc, Đông, Tây đều có một cổng để ra vào có tên lần lượt là Tiền, Hậu, Tả, Hữu ứng với bốn phía.




    [​IMG]

    Cửa Tiền là cổng phía Nam của thành, nằm ở đầu phố Quang Trung ngày nay - Ảnh: Sưu tầm



    [​IMG]

    Cửa Hậu là cửa phía Bắc lệch Đông hướng ra sông Hồng - Ảnh: Sưu tầm



    [​IMG]

    Cửa Tả là cổng thành phía Đông lệch nam nhìn ra chợ Nghệ - Ảnh: Sưu tầm



    [​IMG]

    Cửa Hữu là cửa phía Tây lệch bắc - Ảnh: Sưu tầm



    Trên mỗi cổng thành đều xây dựng lầu canh gác hay còn gọi là vọng lâu, hai bên vọng lâu có bậc thang dẫn lên lầu canh. Trước mỗi cổng đều có hai khẩu súng thần công dùng để bảo vệ thành. Hiện nay chỉ còn hai khẩu thần công nằm ở cổng phía Bắc thành.



    [​IMG]

    Cầu cửa Bắc ngày nay - Ảnh: Che Trung Hieu



    [​IMG]

    Cửa Bắc thành cổ Sơn Tây với hai khẩu súng thân công còn sót lại - Ảnh: Che Trung Hieu



    [​IMG]

    Vọng lâu trước cổng thành có bậc thang đi lên - Ảnh: Nghia Nguyen Huu



    Cũng như phần nhiều các thành trì khác, xung quanh thành cổ Sơn Tây đều có kênh hào bao quanh để bảo vệ thành. Hào sâu khoảng 3m, rộng khoảng 20m và tính toàn thể chu vi khoảng 2km. Hào được nối liền với sông Tích ở phía Tây Nam của thành. Ngoài ra ở phía ngoại thành còn có La thành đắp bằng đất theo bốn hướng để bảo vệ thành.



    [​IMG]

    Hào nước yên ả bao quanh thành cổ - Ảnh: vietnamarchitecture



    Các công trình chủ yếu của thành đều xây dựng theo trục chính là hướng Nam – Bắc theo hai cửa trước – sau, bao gồm các di tích như cột cờ, vọng cung, Đoan môn, hành dinh Kính Thiên, Võ miếu.



    [​IMG]

    Cột cờ thành cổ uy nghi sừng sững trong nắng gió - Ảnh: Duc Thang



    Xem thêm: Các khách sạn giá ưu đãi tại Sơn Tây, Hà Nội



    [​IMG]

    Cổng tam quan thành (Đoan môn) - Ảnh: Duc Thang



    Nếu tham quan theo hướng chính của thành là Nam Bắc, du khách sẽ thấy một lối đi được các rễ cây cổ thụ bao quanh, tỏa bóng xanh um cả một vùng. Đó chính là cổng Tiền nằm ở phía Nam của thành.



    [​IMG]

    Cổng thành như một bức tranh sơn màu cổ tích - Ảnh: tapchithoitrangtre



    Đi vào bên trong thành, du khách sẽ thấy ngay cột cờ hùng vĩ cao khoảng 18m được xây dựng trên hai tầng bệ đá ong vững chắc có rào chắn xung quanh bệ. Trên thân cột cờ có khắc các lỗ soi sáng hình hoa thị và dải quạt để chiếu sáng cho bên trong cột cờ. Bên trong cột cờ có cầu thang xoắn dẫn lên đỉnh cột cờ, đứng trên đỉnh cột cờ, du khách có thể ngắm toàn thể khu thành cổ Sơn Tây.



    [​IMG]

    Kỳ đài cao 18m được xây trên một bệ lớn bằng đá ong - Ảnh: Photosvietnam



    Xem thêm: Các khách sạn giá ưu đãi tại Hà Nội



    Tiếp đó là Đoan môn nằm thẳng với cột cờ, gồm 3 cửa, cửa chính lớn nhất nằm ở giữa, hai cửa nhỏ hơn nằm hai bên. Đi qua Đoan môn là một khoảng sân rộng rãi được lát gạch sạch sẽ dẫn thẳng điện Kính Thiên. Đây là nơi quan trọng nhất của thành, dùng làm nơi nghị sự của vua với quan lại.



    [​IMG]

    Đoan Môn mờ ảo trong sương mù - Ảnh: Facebook



    Tiếp đó, từ điện Kính Thiên nhìn về phía hướng Đông là khu trại giam và kho lương của thành, đó là nơi dành cho người nhà của binh lính ở. Lại nhìn sang hướng Tây là Võ miếu – nơi ghi danh tên tuổi những người có công đã hi sinh bảo vệ thành. Bên cạnh là dinh thự của các quan lại đầu tỉnh.



    [​IMG]

    Thành cổ rực rỡ trong đêm pháo hoa - Ảnh: facebook



    Xem thêm: Các khách sạn giá rẻ tại Hà Nội



    Thành cổ Sơn Tây được xây dựng nhằm mục đích bảo vệ kinh thành Thăng Long ở hướng Tây Bắc, nơi này hiện nay đã trở thành khu di tích cấp quốc gia với lối kiến trúc độc đáo và vững chắc.



    [​IMG]

    Điện Kính Thiên - Ảnh: Che Trung Hieu



    Du khách đến với nơi này sẽ cảm nhận những điều thú vị, tận hưởng bầu không khí cổ xưa. Bốn mùa đều có thiên nhiên trong lành xanh mát với những bờ cỏ xanh tươi, mùa xuân có hàng cây cơm nguội thay lá mới, hoa gạo nở đỏ rực cả góc trời, mùa hè rực lửa với từng chùm phượng đỏ thắm, mùa thu với những hàng cây bồ kết tỏa sắc vàng.



    [​IMG]

    Nét thơ mộng đầy cổ kính - Ảnh: Sưu tầm



    Đến thành cổ Sơn Tây vào những ngày đầu xuân với khí trời se lạnh, du khách còn có dịp chiêm ngưỡng sắc hoa xuân rực rỡ bao quanh bờ hào thành cổ với muôn vàn sắc màu của các loại hoa như hoa mai, hoa đào, quất cảnh, hoa hồng, hoa lan, ly, huệ...bừng sáng cả một góc trời.



    [​IMG]

    Một góc đường cạnh tường thành - Ảnh: Nguyễn Tiến Quang



    [​IMG]

    Con đường bình yên dưới bóng cây - Ảnh: Sưu tầm
    Đặc biệt, nếu du khách muốn tận hưởng không gian yên bình, hòa mình vào thiên nhiên thì lại có hàng cây cổ thụ lâu năm với những tán lá rộng và rễ cây vươn dài ôm trọn cả tường thành, cổng thành tạo nên nét rêu phong cổ kính. Điều này sẽ mang lại cho mọi người những phút giây thoải mái tuyệt vời.

     
  18. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Bánh tẻ Phú Nhi - Sơn Tây. images. 2234332_banh-rang-bua-2. Bánh tẻ Phú Nhi
    bf9dd8b537f3dead87e2.
    Sơn Tây, tỉnh Hà Tây.
    Bánh tẻ Phú Nhi không chỉ thơm ngon độc đáo về hương vị, mà nó còn ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa về tình yêu trong sáng và lòng chung thủy.

    Chuyện kể rằng, xưa có chàng trai thông minh tên là Nguyễn Phú và cô gái xinh đẹp Hoàng Nhi đem lòng yêu nhau say đắm. Nhà Phú làm nghề bán trầu vỏ, nhà Nhi làm nghề bán bánh đúc. Một hôm, do mải mê trò chuyện với người yêu, Nhi đã làm hỏng nồi bánh đúc của mẹ. Gia đình biết chuyện nên ngăn cấm, không cho hai người gặp nhau. Nhi lâm bệnh và mất. Còn phần Phú, sau khi mang nồi bánh hỏng về nhà, vì tiếc công, nên ra vườn ngắt lá dong, lá chuối khô lau sạch rồi thái hành làm nhân, một mình tự thao tác phết bột vào lá dong, cuốn lá chuối khô bên ngoài, lấy dây giang cuốn lại rồi bắc lên bếp đồ. Khi thấy mùi thơm bốc lên, Phú đoán là bánh chín, bóc ra để nguội ăn thấy ngon hơn bánh đúc.

    Những ngày giỗ nàng Hoàng Nhi, chàng trai tự tay cải tiến cách làm bánh và làm những chiếc bánh thật ngon để gửi sang nhà cúng tưởng nhớ người yêu xưa và chàng cũng không lấy vợ chỉ chuyên tâm cho nghề.

    Về sau, qua nhiều lần cải tiến, bánh tẻ trở thành đặc sản của làng. Các gia đình trong làng đều được truyền bá làm nghề này để phục vụ gia quyến và nhu cầu thị trường.

    Nguyên liệu để làm bánh tẻ rất đơn giản, chỉ cần gạo tẻ, thịt lợn, hành khô, mộc nhĩ, gia vị, lá dong (loại nhỏ), lá chuối khô, lạt giang chẻ mỏng. Gạo tẻ chọn loại ngon, xay thành bột, rồi ngâm và thay nước nhiều ngày để lọc hết chất chua. Sau đó lấy bột ra, pha thêm nước, khuấy đều và bắc lên bếp lửa, dùng đũa khuấy đều cho đến khi bột đặc sệt thì thêm gia vị, nhấc xuống và miết vào thành nồi sao cho bột thật dẻo, càng dẻo càng tốt. Dùng cây phết lấy bột từ chậu bột ra và phết đều lên chiếc lá dong, mỗi chiếc dài khỏang 30cm, tra nhân vào giữa phần bột. Nhân bánh là hỗn hợp thịt lợn, mộc nhĩ, hành khô được băm, thái nhỏ rồi xào thơm. Sau đó tiếp tục dùng lá chuối và dây lạt bao bên ngoài bánh rồi mang hấp cách thủy khoảng hơn một tiếng là bánh chín.

    Bánh tẻ ăn dễ tiêu, có thể dùng làm bữa sáng, hoặc ăn trưa, tối đều rất hợp.
     
  19. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    [​IMG]
    Người đến dự đám cưới khá đông. Ông hàng xóm gọi bác làm công đến và bảo:
    - Này, anh đi xem xem có bao nhiêu người đến dự đám cưới bên ấy.
    Bác làm công ra đi. Bác để lên ngưỡng cửa một khúc gỗ và ngồi lên bờ tường đợi khách khứa ra khỏi nhà. Họ bắt đầu ra về. Ai đi ra cũng vấp phải khúc gỗ, văng lên chửi và lại tiếp tục đi. Chỉ có một bà lão vấp phải khúc gỗ, liền quay lại đẩy khúc gỗ sang bên.
    Bác làm công trở về gặp người chủ.
    Người chủ hỏi:
    - Ở bên ấy có nhiều người không?
    Bác làm công trả lời:
    - Chỉ có mỗi một người mà lại là bà lão.
    - Tại sao vậy?
    - Bởi vì tôi để khúc gỗ bên thềm nhà, tất cả đều vấp phải, nhưng cũng chẳng ai buồn dẹp đi. Thế thì lũ cừu cũng làm như vậy. Nhưng một bà lão đã dẹp khúc gỗ sang bên để người khác khỏi vấp ngã. Chỉ có con người mới làm như vậy. Một mình bà lão là người. truyencuoi1.
     
  20. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    truyencuoi1.

    Xưa có một anh chàng ngu ngơ, vợ đi đâu cũng đi đấy để giữ “cái của vợ”, sợ rơi mất. Vợ nói thế nào cũng không nghe, cứ quyến luyến không bỏ một bước. Vợ tức quá. Một hôm nhặt một hòn đá để vào mình, rồi đi chợ. Anh chồng đi sau. Đến một cái ao, nó bảo chồng về, không về thì nó vứt cái ấy ra ao. Chồng không về, nó cầm hòn đá vứt ngay mà nói rằng: “Bảo mãi không nghe thì để làm gì, không vứt cho xong”, rồi giả cách đi chợ. Chồng tưởng thật, vội vàng xuống tát ao cạn, rồi cởi áo lội ao để tìm. Cá vô số không bắt, cứ tìm mãi “cái gì” mà không thấy. Có một chị đi đến đấy, thấy thế hỏi rằng: “Bác tìm gì vậy, sao cá nhiều thế mà không bắt?”. Anh ấy nói rằng: “Tôi tìm “cái này” chớ thiết gì cá”. Chị ta nói rằng: “Bác cho tôi bắt cá có được không”. Anh chàng nói rằng: “Được, nhưng mà có thấy “cái gì” thì phải giả tôi”. Chị ấy chả biết “cái gì” là gì, chỉ cốt bắt cá cho nên ừ liền. Rồi vén áo xuống ao bắt cá. Ai ngờ chị ta cúi chổng mông để hở “cái gì” ra. Anh kia xem thấy, vội vàng chạy lại nắm lấy “cái ấy” mà kêu lên rằng: “Ha ha ha, Đây rồi! Của tôi đây rồi! Mày để tao tìm mãi từ sớm đến giờ”. Nói rồi trách chị kia rằng: “Sao chị tệ thế, chị bắt được mà không giả tôi”. Chị kia kêu lên: “Bỏ ra, ô hay chửa”. Anh ta không bỏ, cứ giữ khư khư lấy. Chị bảo “của chị”, anh bảo “của anh”. Đang lôi thôi thì vợ về đến đấy, thấy thế vội vàng tốc quần lên bảo rằng: “Của nhà ta đây kia mà. Ô nhầm! Bỏ bác ấy ra chứ”. Anh nọ trông lên thấy “của mình” đâu vẫn đấy, mới bỏ chị kia mà nói rằng: “Ô hay, của bác ấy cũng như của ta nhỉ!”.