GÓC CHÉM GIÓ

Thảo luận trong 'Hội Chắn Hà Tây' bắt đầu bởi Seo 1976, 5/4/19.

  1. Yeu Thương Xóm Đình

    Yeu Thương Xóm Đình Hội Chắn Hà Tây

    nay em muôn chửi nhau quá mà cố kìm! giận thật. mà thôi ko có gì đâu các bác nhé! em vẫn nói năng đúng mực lắm!
     
  2. dunght19786

    dunght19786 Hội Chắn Hà Tây

    Anh cứ làm vài câu cho nhẹ lòng
    Giận mày tao ở với ai
     
  3. sân đình 1688

    sân đình 1688 Hội Chắn Hà Tây

    Hay
     
  4. Yeu Thương Xóm Đình

    Yeu Thương Xóm Đình Hội Chắn Hà Tây

    Nắng nóng này uống bia giải khát.
    Uống xong rồi đi hát đi hò.
    Hát hết vui ta đi kiếm bò........
    Anh em nhỉ!
     
  5. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Một món quà quý giá từ Mod 03 Bùi Hồng Thắm gửi tặng Hội Chắn Hà Tây: 0001.
     
  6. Yeu Thương Xóm Đình

    Yeu Thương Xóm Đình Hội Chắn Hà Tây

    Ai tập yêu vào những ngày tháng tư.
    Và ngỏ lời đúng ngày nói dối.
    " Tôi yêu bạn", rồi bước đi rất vội.
    Lòng ngập ngừng - " bạn có hiểu mình không?"
     
  7. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Xứ Đoài Mây Trắng lắm
    0001. Sách Xứ Đoài mây trắng tái hiện cuộc sống nông thôn trước năm 1945
    Tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Sơn Đỗng gợi nhớ thời kỳ khó khăn của nông dân Việt Nam trước ngày giành độc lập.
    Bối cảnh câu chuyện diễn ra ở làng Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Tây (nay là Hà Nội). Người dân nơi đây sống mòn mỏi trong đói nghèo và sự áp bức của thực dân Pháp, phát xít. Thế nhưng họ luôn vui vẻ, yêu đời. Trong lúc "đói đến run tay", họ vẫn ngồi tề tựu, ngâm nga Truyện Kiều. Tác giả xây dựng hình tượng "mây trắng vẫn bay" như một ẩn dụ về tinh thần lạc quan, tâm hồn lãng mạn của họ.
    Thế hệ thanh niên của Chàng Sơn như Quang, Văn, Quý... sớm nhập ngũ, mang theo ước mơ giải phóng dân tộc. Bà Quý, Cúc, Thắm... ở lại quê hương, chăm lo sản xuất. Họ gợi nhớ hình ảnh phụ nữ nông thôn Việt Nam tảo tần, kiên cường.

    Tác giả Nguyễn Sơn Đỗng khéo léo lồng ghép nhiều chi tiết hài hước. Khung cảnh tát nước đầu đình, gặt lúa, chợ quê... hiện lên sinh động, khiến câu chuyện về cuộc sống của người dân nghèo bớt nặng nề, bi lụy
    Nhà văn Dương Trung Quốc nhận xét: "Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết này khi còn là bản thảo một cách hứng thú chẳng khác gì một pho dã sử mà người viết đã hóa thân vào những nhân vật của mình với lòng khao khát hồi tưởng về những mảnh đời trên mảnh đất Chàng Sơn
     
  8. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    lang22. pngtree-purple-ribbons-fluttering-png-clipart_1572155. Bóng chiếc thoi đưa ánh mắt long lanh

    Trời đất Hà Tây tay em dệt lụa

    Sữa trắng Ba Vì, thóc vàng khu Cháy

    Hồn thơ Nguyễn Trãi dệt thành vần

    Sông Tích sông Đà giăng lụa mênh mông”

    (Hà Tây quê lụa – Nhật Lai)

    Tiếng Hà Tây - một nét của văn hoá xứ Đoài
    Hà Tây (cũ) với diện tích rất lớn và một khối cư dân đông hơn hẳn Hà Nội (cũ), rõ ràng là một vùng đất rất đáng tự hào. Gọi là “cửa ngõ Thủ đô” nhưng mảnh đất này từ xưa đã nổi danh với các danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc gồm thành cổ, đền chùa miếu mạo, nhà cổ và các làng nghề cổ. Chùa Hương, chùa Trăm Gian, chùa Thầy, chùa Mía, chùa Tây Phương, chùa Đậu,.... toàn là những ngôi chùa lớn. Lụa Hà Đông đã trở thành thương hiệu nổi tiếng cả thế giới chứ không chỉ ở phạm vi quốc nội. Làng cổ Đường Lâm với gạch đá ong “âm thầm mang lời đất” với cảnh quan rất đặc sắc, hữu tình. Rõ ràng, có một văn hoá xứ Đoài hiện hữu từ bao đời chìm sâu vào nền văn hoá Việt.
    Ngôn ngữ và tiếng nói người Hà Tây cũng khác. Có khá nhiều vùng đất có sắc thái “thổ ngữ” riêng. Một số vùng phát âm nghe hơi nặng. Một số vùng phát âm “nuốt” thanh điệu. Chẳng hạn, “Con bò vàng” nói thành “con bo vang”, “buổi chiều” thành “buổi chiêu”, … Nhiều lối nói của cư dân bản địa còn khác về từ ngữ. Trong gia đình không gọi bố mẹ, cậu mợ mà gọi thầy u, thầy mẹ, … Đó là hệ quả của lối sống vùng miền, “khép kín” vì thói quen sản xuất “tự cấp tự túc”, phong tục có phần địa phương chủ nghĩa, ít giao lưu… Những “ốc đảo” ngôn ngữ ít có ở nơi thị thành thì ở các vùng nông thôn xưa ta gặp khá nhiều.
    Nhiều người Hà Nội (cũ) băn khoăn tự hỏi, không rõ là tiếng Hà Nội ngàn đời với bản sắc riêng kia sẽ thế nào khi Thủ đô mở rộng? Tất nhiên, cư dân tăng (mà tăng mạnh mẽ) sẽ góp phần làm thay đổi diện mạo ngôn ngữ.
    Thực tế, khi chưa sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội, một số lượng lớn cư dân ở khắp nơi đã đổ về Thủ đô (qua con đường nhập cư, chuyển công tác, kết hôn…). Nội thành Hà Nội đã mở rộng đến nỗi “ba sáu phố phường” xưa chỉ là một “ốc đảo bảo tồn”. Có còn mấy gia đình thuần “Hà Nội gốc” trong sự giao lưu, biến đổi mạnh mẽ từ bao đời nay?
    Nhưng sự hội nhập của Hà Tây với Hà Nội sẽ không giống như thế. Vì địa bàn cư dân không thay đổi. Người Quốc Oai vẫn giọng Quốc Oai và cư dân quận Hoàn Kiếm kia vẫn nói năng bình thường như chẳng có điều gì xảy ra. Bức tranh phương ngữ hẹp của Thủ đô sẽ vẫn có sự phân cách nhất định. Và nếu có cô gái nào đó từ Thạch Thất ra Cầu Giấy học đại học thì người ta vẫn nhận ra ngay giọng nói của cô em “không trộn lẫn vào đâu được”.
    Về nhiều vùng Hà Tây cũ, chất giọng riêng của họ vẫn có “độ chênh” so với tiếng Hà Nội và ngôn ngữ toàn dân. Nói như vậy cũng không hẳn là không có sự xô lệch nào đó về ngôn ngữ. Sự sáp nhập hành chính kéo theo sự chuyển cư hợp pháp theo nhu cầu tự nhiên và theo sự điều động cơ cấu cư dân. Cơ cấu lao động thay đổi. Người lao động (lao động tự do, buôn bán nhỏ, lao động thời vụ) từ nhiều nơi tiến về nội thành mạnh mẽ hơn. Người Hà Nội (cũ) mua đất, chuyển nhà ra sinh sống ở các huyện ngoại thành cũng nhiều hơn.
    Sự đan xen về mật độ cư dân các vùng làm cho ngôn ngữ bị tác động. Khi hội nhập, xu hướng “đồng hoá trên thế mạnh” sẽ xảy ra. Về vấn đề này, tiếng Tràng An có vẻ đang ở thế thượng phong? Rất có thể vì tiếng Hà Nội gốc có nhiều ưu thế. Sinh hoạt đô thị cũng làm cho sự hoà đồng ngôn ngữ diễn ra dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nếu không có thái độ đúng đắn, không có một cơ chế bảo tồn văn hoá ngôn ngữ, rất có thể chúng ta sẽ làm cho tiếng Hà Nội “bị pha tạp”, làm mất đi vẻ đẹp vốn có của mình.
    Đó là sự thâm nhập của những cách nói tuỳ tiện, không phù hợp với cách ứng xử ngôn ngữ được coi là hào hoa thanh lịch, như lối nói trống không, xách mé, nói tục, chửi bậy … Rồi cách nói theo ngôn ngữ hiện đại như tiếng lóng, ngôn ngữ mạng (chat), ngôn ngữ đường phố… cũng mau chóng lan truyền, nhất là giới trẻ. Sẽ có nhiều hướng tác động và lan toả lẫn nhau: từ đô thị về nông thôn và ngược lại. Cái hay cũng có và cái dở cũng nhiều… 9-du-lich-ha-tay-cu-mytour-4. 9-du-lich-ha-tay-cu-mytour-12.

     
    Chỉnh sửa lần cuối: 28/4/19
  9. cafedangt

    cafedangt Công Thần Hội Chắn Hà Tây

    Nhớ mãi thời hs
    Cứ mỗi dịp tháng tư về, hoa Phượng đỏ thắm, những cảm xúc lại ùa về trong mỗi người chúng ta

    Tháng tư về phượng đỏ thắm sân trường
    Chợt nhớ mối tình dễ thương ngày ấy
    Bài thơ tình anh viết trên trang giấy
    Trao em rồi sao vẫn thấy bâng khuâng


    Ánh mắt giao nhau trong dạ lâng lâng
    Sao quên được cái tuổi hồng ngày đó
    Thuở học trò mộng mơ cùng mây gió
    Hai đứa mình luôn gắn bó bên nhau


    Anh chở em đi bất cứ nơi đâu
    Trên chiếc xe đạp bạc màu sơn tróc
    Em ngồi phía sau gió vờn mái tóc
    Suốt một thời ta cùng học cùng chơi


    Nụ hôn đầu anh vẫn nhớ em ơi
    Thật ngọt ngào khi bờ môi gắn chặt
    Nguyện ước mai sau tình mình son sắt
    Không có gì chia cắt được tình ta


    Tháng tám về mùa hè cũng trôi qua
    Hai đứa chúng mình chia xa hai lối
    Cũng vì ngày xưa một thời nông nổi
    Ta mất nhau rồi biết lỗi của ai


    Thời gian phôi pha bao tháng năm dài
    Giờ nhận ra ta đều sai em ạ
    Anh về đây khi sân trường vào hạ
    Nhớ em nhiều anh nhớ cả hè xưa.
    nho-mua-ha-xua-202058.
     
  10. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Danh Lam Thắng Cảnh
    Ngôi Đình Đẹp Nhất Xứ Đoài

    05/07/2017 14:50
    Đình So là ngôi đình đẹp vào hạng nhất trong những đình làng của xứ Đoài, như trong dân gian từng có câu: cầu Nam - chùa Bắc - đình Đoài hay dân gian xứ Đoài lại có câu: Đẹp đình So, to đình Cấn.
    [​IMG]

    Đình So là đình của làng So (còn có tên là Sơn Lộ) thuộc xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai (Hà Tây cũ), cách trung tâm Hà Nội chừng 40km. Từ trên đê sông Đáy cong cong như một dải lụa đào đã thấy đình So hoành tráng và uy nghi soi bóng trên mặt hồ bán nguyệt.

    [​IMG]
    Suốt dọc triền đê êm ả là những nong miến sợi phơi dài hai bên đường, tạo nên một khung cảnh làng quê yên bình và thi vị.
    [​IMG]
    Các họa tiết trang trí và chạm khắc trên nóc tam quan vẫn còn giữ được nguyên vẹn, vô cùng đẹp và tinh xảo.
    [​IMG]
    Đình có bậc thang đá có 18 cấp dắt xuống phía hồ bán nguyệt, hai bên có hai hàng lan can bằng đá, mỗi đầu có tạo hình đám mây rất mềm mại và sống động, tạo cảm giác mây vờn gió thổi rất nhẹ nhàng.
    [​IMG]
    Trước cổng tam quan của đình là một khoảng sân rộng lớn, nơi dân làng So vẫn thường dùng phơi miến và đám trẻ làng nô đùa mỗi khi chiều về.
    [​IMG]

    Đình thờ tam vị nguyên soái Đại Vương là các vị tướng đã theo vua Đinh Tiên Hoàng đi dẹp loạn 12 sứ quân năm xưa, đã qua bốn lần tu sửa nhưng đến nay vẫn giữ được những nét đẹp tinh xảo và thơ mộng như tự thuở nào.

    [​IMG]
    Hai đầu phía ngoài tam quan là hai cây đại cổ thụ cành lá khẳng khiu không biết đã bao nhiêu năm tuổi đời vẫn đang kiên gan cùng tuế nguyệt.
    [​IMG]
    Mùa này hoa đại rụng trắng dưới nền đất, hương hoa ngan ngát thoảng bay.
    [​IMG]
    Trải qua năm tháng, ngôi đình vẫn giữ được những nét đẹp cổ kính. Đình nằm gối lên núi Rùa, trước mặt là đê sông Đáy đã được nắn dòng tạo thành hình như một hồ nước hình bán nguyệt.
    [​IMG]
    Đình làng có 7 gian, 2 chái, 4 mái rộng lợp ngói, đầu đao bốn góc uốn quanh, mái đao cong vút như mũi hài, kiêu hãnh và lộng lẫy.
    [​IMG]
    Đình vẫn vẹn nguyên lối kiến kiến trúc của đình làng Việt cổ xưa.
    [​IMG]
    Bên trong đình các cột gỗ lim lớn nhỏ xếp thành 6 hàng ngang, 10 hàng cột, có 32 cột lim lớn một vòng tay người ôm không xuể và 32 cột lim nhỏ bao quanh, sau điện thờ là “cung” chỉ mở cửa vào khi có hội.
    [​IMG]
    Trong đình hiện còn giữ được 40 đạo sắc phong thần từ năm Hoằng Định 2 (1601) thời nhà Lê đến năm Khải Định 9 (1924) thời nhà Nguyễn, cùng nhiều hoành phi, câu đối cổ.
    [​IMG]
    Gian chính giữa của ngôi đình.
    [​IMG]
    Năm 1980, đình So đã được Bộ Văn hoá - Thể thao & Du lịch xếp hạng Di tích Quốc gia cần được bảo tồn.
     
  11. trai nguyenbac

    trai nguyenbac Hội Phó - Trưởng Ban Tài Chính Hội Chắn Hà Tây

    ĐỜI ĐÚNG LÀ CHỈ KHÁC NHAU CÁCH NGHĨ .

    Nhận được thông tin có người định nhảy cầu tự tử anh cảnh sát đến rồi hỏi:
    - Mày thua bóng nhưng còn con SH đó đem bán mẹ đi làm con lô đã, biết đâu gỡ lại, giờ mới 3h mà. Sau 6h30’ chưa biết ai giàu hơn ai đâu!

    - Hắn méo mó buông bớt 1 tay nói: Không phải thua tiền banh bóng anh ơi. Con bồ em đã quen 10 năm nay nó vừa lấy chồng hôm nay rồi.

    - Cảnh sát: Đậu phộng mày! Mày ngủ free với vợ thằng khác 10 năm nay, lời mẹ nó rồi, không đi ăn mừng sao còn đòi chết.

    - Anh kéo em lên với! Chiều anh xong ca em mời nhậu nha.

    ĐỜI... CHỈ KHÁC NHAU CÁCH NGHĨ, BẤT KỲ CHUYỆN GÌ XẢY RA ĐỀU CÓ LÝ DO CỦA NÓ, MÌNH NHÌN NHẬN SAO ĐỂ YÊU ĐỜI YÊU CUỘC SỐNG CỦA MÌNH THÔI...!!!
    OK, ÉO VIỆC GÌ PHẢI BUỒN.

    Sưu tầm.
     
  12. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    10. khu-du-lịch-hồ-suối-hai-địa-điểm-du-lịch-gần-hà-nội-bình-minh. chieu-tren-ho-suoi-hai. XỨ Đoài Quê Tôi
    Ba Vì thắng cảnh nổi tiếng


    Nằm cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 60 km về phía tây Bắc, Ba Vì là vùng đất địa linh, nhân kiệt, một vùng đất tối cổ, có truyền thống văn hoá lâu đời, độc đáo, đặc trưng bởi 3 dân tộc Kinh - Mường - Dao với những phong tục, tập quán, nét văn hoá riêng biệt. Nhắc tới Ba Vì có lẽ ấn tượng đầu tiên của du khách sẽ là về một nền văn hoá dân gian vật thể và phi vật thể độc đáo. Huyền thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh, bản anh hùng ca hùng tráng nhất về sức mạnh Việt Nam trong thời kỳ dựng nước. Đó là truyền thuyết về vị thần được ngưỡng kính trong tâm thức ngàn đời người dân đất Việt - Đệ Nhất Phúc Thần Tản Viên, hay còn gọi là Nam Thiên Thần Tổ, vị Thần đứng đầu trong Tứ Bất Tử.

    Với bề dày lịch sử, Ba Vì là nơi có nhiều di tích lịch sử - văn hoá có giá trị đặc biệt như: Cụm di tích: Đền Thượng - Đền Trung - Đền Hạ thờ Tam vị Tản Viên Sơn Thánh; Đình Tây Đằng, Đình Chu Quyến là 2 di tích được xếp hạng đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, Đình Thụy Phiêu được các nhà khoa học đánh giá là một trong những ngôi đình cổ nhất Việt Nam có niên đại tuyệt đối 1531- thời Nhà Mạc; Đền thờ Bác Hồ, Khu di tích lịch sử K9 ( nơi lưu giữ những kỷ vật liên quan đến Bác Hồ khi Người ở đây) cùng hàng trăm di tích lịch sử - văn hoá có giá trị khác.


    [​IMG]
    Núi Ba Vì

    Ba Vì được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cả bức tranh sơn thuỷ hữu tình, với hệ sinh thái phong phú, thảm thực vật đa dạng, được coi là "lá phổi xanh" phía Tây thủ đô Hà Nội. Nơi đây có rất nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp như: Núi, đồi, rừng, Thác, suối, Sông, Hồ cùng với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Ao Vua, Khoang Xanh - Suối Tiên, Hồ Tiên Sa (gắn liền với truyền thuyết "Sơn Tinh - Thuỷ Tinh"), Thiên Sơn - Suối Ngà, Khu du lịch Tản Đà, Thác Đa, Hồ Suối Hai, Hồ Cẩm Quỳ, Rừng nguyên sinh Bằng Tạ - Đầm Long, Đồi cò Ngọc Nhị... Nơi có nhiều trang trại đồng quê, nhiều sản phẩm nông nghiệp phong phú. Có nguồn nước khoáng nóng thiên nhiên tại Thuần Mỹ rất thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng. Để thuận lợi cho du khách đến Ba Vì - Hà Nội lưu trú qua đêm, chúng tôi xin cung cấp một số thông tin khách sạn giảm giá Hà Nội để du khách tham khảo đặt phòng.


    Giao thông đến Ba Vì: Đại lộ Thăng Long với vận tốc thiết kế dành cho xe 4 bánh 80km/h nối trung tâm Hà Nội với Quốc lộ 21A, điểm đầu của đường Hồ Chí Minh. Quốc lộ 32 chạy qua thị trấn Tây Đằng, nối Sơn Tây với Hưng Hóa tỉnh Phú Thọ và đi các tỉnh vùng Tây Bắc Bắc Bộ. Trên quốc lộ này, đoạn cuối tại xã Thái Hòa có cầu Trung Hà, bắc qua sông Hồng. Trục Hồ Tây – Ba Vì đang được Bộ Giao thông Vận tải trình Chính phủ.
    Đường thủy: sông Hồng, sông Đà và sông Tích.

    [​IMG]
    Du lịch Ba Vì kính chào quý khách
     
  13. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    XỨ ĐOÀI QUÊ TÔI
    1: BA VÌ :

    Chỉ cách Hà Nội khoảng 60km, Ba Vì gắn liền với truyền thuyết Núi Tản, Sông Đà, lại được thiên nhiên ban tặng cho khu rừng nguyên sinh Vườn Quốc Gia Ba Vì, vì thế nơi đây có thiên nhiên vô cùng trong lành, thoáng mát...

    Đây là điểm du lịch cuối tuần hấp dẫn cho rất nhiều bạn trẻ ưa khám phá thiên nhiên, cũng như những gia đình muốn tìm kiếm những kỳ nghỉ cuối tuần vui vẻ.

    [​IMG]
    Cảnh quan thiên nhiên xanh tươi, trong lành của Ba Vì.

    Thời điểm du lịch Ba Vì
    Tháng 4 - 10: Tránh nóng oi bức mùa hè: Các bạn có thể tham quan Ba Vì bất cứ thời điểm nào trong năm, nhưng khoảng thời gian đẹp nhất là vào mùa hè – từ tháng 4 đến tháng 10. Bởi lẽ, không khí mùa hè ở thành phố rất oi bức và ngột ngạt, chỉ cần đặt chân lên Ba Vì, các bạn sẽ cảm thấy như bước vào một thế giới hoàn toàn khác với không khí trong lành, mát mẻ và đặc biệt là rất yên tĩnh. Chú ý tránh những ngày trời mưa vì đường dốc.

    [​IMG]
    Ba Vì xanh mát quanh năm.

    Tháng 10 -12: mùa hoa dã quỳ nở rộ: Mùa hoa dã quỳ Ba Vì thường bắt đầu từ khoảng cuối tháng 10, đầu tháng 11 và thời gian hoa nở rộ nhất chỉ kéo dài trong khoảng 10 đến 14 ngày. Để chụp được những bức ảnh đẹp về Hoa Dã Quỳ bạn phải đi vào khu vực đồi 700, ở đó có thảm hoa dã quỳ rất rộng, vào đúng thời điểm nợ rộ, hoa nở vàng khắp cả 1 vùng đồi.

    [​IMG]
    Mùa hoa dã quỳ Ba Vì.

    Đi đến Ba Vì
    Với khoảng cách gần 60km, từ trung tâm Hà Nội chúng ta có tới 3 cung đường di chuyển để tới vườn quốc gia Ba Vì bằng xe máy/ô tô tự lái

    - Hướng 1: Xuất phát từ ngã tư Big C Thăng Long, thẳng hướng đại lộ Thăng Long đi Láng - Hoà Lạc và rẽ trái khi đi qua chợ Tam Mỹ, đường đẹp, chạy bon bon nhưng trên đường không có chỗ nào chơi, trạm dừng nghỉ.

    - Hướng 2: Xuất phát từ đại học Sư Phạm Hà Nội, chạy thẳng đường 32 qua thị xã Sơn Tây rồi rẽ theo hướng đi Chùa Thông, phù hợp với bạn nào ở phía Phạm Văn Đồng, quận Tây Hồ,...

    - Hướng 3: Cùng điểm xuất phát hướng 1 nhưng không chạy hết đại lộ Thăng Long mà rẽ vào Thạch Thất, đi qua thị xã Sơn Tây và đi theo hướng chùa Thông như hướng 2.

    Lưu ý khi đi lên Ba Vì

    Các bạn có thể di chuyển bằng xe máy hoặc ô tô đều được, vì khoảng cách gần và đường khá dễ đi. Nhưng bạn không nên đi xe ga vì đường đi khá dốc, khi đi xuống có rủi ro cháy phanh và dễ gặp tai nạn.

    Xe ô tô khách lớn hơn 30 chỗ thì chỉ được lên đến cote 400, từ cote 400 trở lên cấm không được lên. Bạn phải gửi xe tại bãi và đi xe máy vào sâu bên trong.

    Điểm du lịch ở Ba Vì
    Nổi tiếng nhất là rừng Quốc Gia Ba Vì, bên trong quần thể rừng Quốc Gia Ba Vì có rất nhiều điểm du lịch sinh thái, tâm linh, các điểm cắm trại, nghỉ ngơi vui chơi.

    Ngoài ra ở Ba Vì còn có các khu du lịch sinh thái với nhiều loại dịch vụ du lịch hấp dẫn du khách.

    Điểm du lịch bên trong Vườn Quốc Gia Ba Vì
    với khí hậu núi cao trong lành và mát mẻ, mang vẻ đẹp hoang sơ và lôi cuốn với màu xanh ngát của núi rừng, cùng những dòng suối nhỏ trong vắt chảy ngang lối đi qua thảm động thực vật phong phú. Vườn Quốc Gia là điểm thu hút mọi du khách khi đến Ba Vì, nơi đây đặc biệt phù hợp cho các hoạt động dã ngoại như đi bộ, teambuilding, cắm trại.

    [​IMG]
    Lối đi trong Vườn quốc gia ba Vì.

    Đồi Thông: Theo lối mòn từ cổng đi vào dẫn lối du khách vào trong rừng thông vi vút, rừng tùng rộng lớn. Vẻ bao la của đại ngàn như đưa du khách lạc tới một miền đất kỳ diệu.

    [​IMG]
    Đồi thông Ba Vì.

    Nhà thờ Đổ: nằm ở độ cao 800 m, giữa tán rừng già cổ thụ. Bị bỏ hoang đã nhiều năm, phần mái của nhà thờ không còn nữa, trơ trọi giáo đường âm u giữa cây lá um tùm. Trên bức vách, dấu thập tự phủ một màu hoài cổ, hắt tia nắng chiều bàng bạc qua ô cửa sổ. Đây là địa điểm thu hút các bạn trẻ đến check-in và chụp những bức ảnh sống ảo rất đẹp.

    [​IMG]
    Nhà thờ Đổ Ba Vì.

    Nhà kính xương rồng: được xây dựng ở vườn quốc gia Ba Vì có hơn 1200 loài xương rồng khác nhau, từ những loại nhỏ nhắn, xinh xắn đến những loại xương rồng gai góc, khổng lồ.

    [​IMG]
    Nhà kính xương rồng.

    Đền Thờ Bác Hồ trên Đỉnh Vua: Ngôi đền mang phong cách kiến trúc truyền thống có 8 mái đao uốn cong ở bốn phía, dựng trên những chiếc cột tròn trên chân đá tảng… Đền được xây dựng theo kết cấu bền vững, uy nghiêm. Chính điện là một không gian mở, không có cửa. Trên bệ thờ đá có bức tượng Bác Hồ đúc bằng đồng trong tư thế ngồi, phía trên là bức hoành phi ghi dòng chữ nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

    [​IMG]
    Đền thờ Bác Hồ.

    Tháp báo thiên: (hay còn gọi là Báo thiên bảo tháp) được xây dựng gần đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đỉnh Vua núi Ba Vì và hoàn thành năm 2010 nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội

    [​IMG]
    Tháp Báo Thiên.

    Đền Thượng: Theo truyền thuyết để lại, để xây dựng đền Thượng, nhà nước phong kiến đã phải huy động nguồn nhân lực rất lớn ở hai bên bờ sông Đà, dân chúng nối tay nhau chuyển vật liệu từ sông Đà lên đỉnh núi Tản để xây đền.

    [​IMG]
    Đền Thượng.

    Những khu Du Lịch Khác Ở Ba Vì
    Khu di tích lịch sử K9: Đến với K9, các bạn sẽ được tham quan không gian nơi Bác từng ở, hầu như được giữ nguyên vẹn đến ngày hôm nay

    [​IMG]
    Khu di tích lịch sử K9.

    Khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà: Nếu bạn là một người, yêu thiên nhiên, đam mê khám phá thì khu du lịch Thiên Sơn Suối Ngà sẽ là sự lựa chọn hoàn hảo nhất cho bạn

    [​IMG]
    Thiên Sơn – Suối Ngà.

    Khu du lịch Ao Vua: đây là khu du lịch rộng lớn với nhiều khu vui chơi, tại khu du lịch này bạn có thể vui chơi tại khu trò chơi hoặc thỏa sức bơi lội trong khu vực công viên nước. Ngoài các khu vui chơi giải trí trong ngày, khu du lịch này cũng có dịch vụ lưu trú với các phòng nghỉ tiện nghi ...

    [​IMG]
    Ao Vua.

    Khu du lịch Khoang Xanh, Suối Tiên: Khu du lịch này phù hợp với những ai vừa muốn trải nghiệm bản thân giữa thiên nhiên núi rừng vừa muốn được vui chơi giải trí để loại bỏ đi những áp lực căng thẳng hàng ngày.

    [​IMG]
    Khu du lịch Khoang Xanh, Suối Tiên

    Khu du lịch Đầm Long - Bằng Tạ: thuộc xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì là một khu du lịch sinh thái khá hấp dẫn. Đến khu du lịch này, bạn được tham quan khu rừng nguyên sinh với đa dạng chủng loại thực vật và nhiều loài thú sinh sống nơi đây như: khỉ, hươu, nai, sóc... nhưng thú vị nhất là những chú khỉ, bạn có thể cho chúng ăn, chơi đùa cùng chúng.

    [​IMG]
    Khu du lịch Đầm Long - Bằng Tạ.

    Khu du lịch Long Việt: Khu du lịch Long Việt được xây dựng, quy hoạch tổng thể tái hiện kiến trúc theo các vùng miền của Bắc bộ, mỗi khu tham quan đều có trưng bày hiện vật theo từng vùng miền để khách tham quan có thể hình dung được phần nào cuộc sống của đồng bào các dân tộc.

    [​IMG]
    Khu du lịch Long Việt.


    Món ngon Ba Vì
    Ẩm thực Ba Vì rất phong phú và đa dạng , được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi, Ba Vì có đủ các loại món ngon của núi rừng, sông suối, nhưng nổi tiếng nhất là sữa từ những chú bò được nuôi ở các khu trang trại rộng lớn tại Ba Vì.

    Sữa tươi, sữa chua, bánh sữa: Ở Ba Vì có những trang trại sữa với quy mô lớn và hiện đại, mô hình chăn nuôi theo quy trình sản suất nghiêm ngặt, vì thế sữa bò, sữa dê nuôi ở Ba Vì có hương vị thơm ngon đặc biệt. Uống ly sữa tươi ở đây, bạn cảm nhận rõ rệt vị béo, thơm, ngậy hay hơi gây đặc trưng của sữa. Ngoài ra bạn có thể thưởng thức và mua bánh sữa về làm quà, bánh sữa cũng là một trong những đặc sản ngon của Ba Vì.

    [​IMG]
    Sữa tươi Ba Vì.

    Bê non: Một đặc sản đi cùng thương hiệu bò sữa Ba Vì là những trang trại nuôi bò và bê sạch sẽ đã tạo lên nguyên liệu sạch để tạo lên món bê thơm ngon bổ dưỡng. Nguyên liệu đơn giản nhưng với sự khéo léo đã tạo lên món ăn tuyệt vời. Bê Non có thể làm được rất nhiều món ngon như tái Bê, hay những món xào với những nguyên liệu khá đơn giản. Hiếm ai đến Ba Vì có thể khước từ sự mời gọi của món đặc sản vùng núi đồi này.

    [​IMG]
    Món bê non Ba Vì chao dầu.

    Gà đồi Ba Vì: Với lợi thế có nhiều vùng gò đồi và núi thấp, ở Ba Vì hiện nay có rất nhiều các trang trại nuôi gà đồi. Gà đồi ở Ba Vì được nuôi dưỡng trong điều kiện khí hậu lý tưởng, theo phương pháp chăn thả tự do trong vườn, nên thịt gà chắc, thơm và ngon. Gà đồi Ba Vì được chế biến thành rất nhiều cá món khác nhau như: gà tần, gà luộc, gà rang xả ớt, lẩu gà, nộm gà. Các quán gà đồi thường nằm trên đường Đại Lộ Thăng Long hoặc gần đường 32.

    [​IMG]
    Mẹt gà đồi Ba Vì nướng.

    Cá sông Đà: cá sông đà là một trong những đặc sản nổi tiếng của Ba Vì, ngon nhất là cá lăng, cá ngạnh, cá chiên ... để đánh bắt được loài cá này rất khó, vì những loài cá này khỏe, lại sống ở khu vực sâu nhất của lòng sông. Những con cá đánh bắt được thường từ vài kg cho tới cả yến, thịt chắc, thơm ngon... một lần thưởng thức loại đặc sản này sẽ làm cho bạn không thể nào quên.

    [​IMG]
    Cá chiên sông đà hấp, thịt vàng, chắc, ngọt.

    Rau rừng: Rừng Quốc gia Ba Vì là nơi cung cấp các loại rau rừng, ăn vừa ngon vừa lạ như rau Tầm Bóp, rau Chin xào tỏi hoặc nấu canh. Hoa chuối rừng nộm, hoa chuối nấu canh với rau cải chua...

    Lưu trú ở Ba Vì
    Hình thức cắm trại
    Nếu bạn đi du lịch TeamBuilding, bạn có thể đi lên rừng cắm trại đốt lửa trại tại những khu vực được cho phép, nghỉ 1 đêm trong rừng, đốt lửa trại và nướng đồ ăn cũng là một trải nghiệm tuyệt vời bạn nên thử khi Du lịch Ba Vì.

    Vườn Quốc Gia Ba Vì có rất nhiều địa điểm để cắm trại với nhóm đông người, dưới đây là những địa điểm cho phép cắm trại ở Ba Vì cho bạn lựa chọn

    Những địa điểm cắm trại ở Vườn Quốc Gia Ba Vì

    - Rừng thông ở Ba Vì Resort : Với nền đất thoai thoải dốc và khá yên tĩnh, bạn sẽ dễ dàng kiếm được một chỗ rộng rãi để hạ trại giữa những cây thông mọc sát nhau, bạn được cắm trại ở bất kỳ chỗ nào ở điểm này và không phải trả phí. Bạn không được phép đốt lửa trại ở vị trí này, đối diện rừng thông là phía bên nhà hàng Xạ Hương và Ba Vì Resort, có bán đồ ăn và uống.

    - Rừng thông tư nhân ở khu vực vườn Xương Rồng: không đẹp bằng rừng thông ở Ba Vì Resort, tuy nhiên bạn có thể cắm trại qua đêm, được đốt lửa trại, chi phí cắm trại là 20k/người, có dịch vụ cho thuê lều bạt và đốt lửa trại.

    - Hồ Tiên Sa: nằm ngay đoạn đầu cửa vườn quốc gia Ba Vì sẽ có một chỗ rẽ vào hồ, khu du lịch Hồ Tiên Sa cũng cho thuê lều trại, bạt và dịch vụ đốt lửa trại.

    - Xung quanh Nhà thờ cổ Pháp: xung quanh nhà nhờ là các bãi đất trống, bạn có thể cắm trại ở đây, tuy nhiên bạn chỉ được cắm trại trong ngày và không được ở lại qua đêm
     
  14. levanlap

    levanlap Hội Chắn Hà Tây

  15. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    1. Giới thiệu về thị xã Sơn Tây
    Ngày đăng 03/09/2015 | 10:58 | View count: 14493
    [​IMG]

    Thị xã Sơn Tây là cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội với toạ độ địa lý 210 vĩ bắc và 1050 kinh đông, cách trung tâm Hà Nội 42 km về phía Tây bắc, nằm trong vùng đồng bằng trung du bắc bộ, là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của cả vùng, có nhiều đường giao thông thuỷ, bộ nối với trung tâm Thủ đô Hà Nội, các vùng đồng bằng Bắc Bộ, với vùng Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc như: Sông Hồng - Sông Tích, đường Quốc lộ 32, Quốc lộ 21A, đường tỉnh lộ 414, 413… Thị xã Sơn Tây có tổng diện tích tự nhiên là 113,46 km2, dân số khoảng 18 vạn người, được chia làm 15 đơn vị hành chính gồm 09 phường, 06 xã; có 53 cơ quan, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học và 30 đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn.

    Theo "Thư tịch cổ" (Đại Nam nhất thống chí, lịch triều hiến chương loại chí) Sơn Tây xuất hiện cách đây hơn 500 năm. Năm 1469 (thời Lê Thánh Tông), Trấn sở Sơn Tây đóng tại xã La Phẩm, huyện Tiên Phong, Phủ Quảng Oai (nay thuộc xã Tản Hồng, Ba Vì, Hà Nội), thời kỳ đó gọi là Sơn Tây Thừa Tuyên. Đến thời Lê Cảnh Hưng (1740-1786), Trấn sở được dời về xã Mông Phụ, huyện Phú Lộc, Phủ Quảng Oai (nay thuộc xã Đường Lâm, Sơn Tây), năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), Trấn sở dời về thôn Thuần Nghệ - Huyện Minh Nghĩa (nay là nội thành Sơn Tây). Năm 1831, Trấn Sơn Tây đổi thành tỉnh Sơn Tây và trấn lỵ trở thành tỉnh lỵ. Năm 1942, Thực dân Pháp đổi tỉnh lỵ thành Thị xã Sơn Tây.

    Thị xã Sơn Tây là thủ phủ của tỉnh Sơn Tây (bao gồm 06 huyện: Quốc Oai, Quảng Oai, Tùng Thiện, Phúc Thọ, Thạch Thất, Bất Bạt) với diện tích 150 mẫu bắc bộ và số dân là 6.116 người.

    Tháng 6/1965, thực hiện Quyết định của Chính phủ, thị xã Sơn Tây cùng với các huyện của tỉnh Sơn Tây sát nhập với tỉnh Hà Đông thành tỉnh Hà Tây.

    Năm 1979, thực hiện Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, thị xã Sơn Tây cùng một số huyện của tỉnh Hà Sơn Bình chuyển về thành phố Hà Nội.

    Tháng 10 năm 1991, thị xã Sơn Tây được tách và chuyển về trực thuộc tỉnh Hà Tây.

    Ngày 13/4/2006, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã có Quyết định số 655/QĐ-BXD công nhận Thị xã Sơn Tây là đô thị loại III.

    Đặc biệt, ngày 02/8/2007, Chính phủ đã có Nghị định số 130/NĐ-CP về việc thành lập Thành phố Sơn Tây trực thuộc tỉnh Hà Tây.
    Ngày 01/8/2008, thực hiện Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Thành phố Sơn Tây trở về với Thủ đô Hà Nội.

    Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, qua nhiều lần tách, nhập, điều chỉnh địa giới hành chính; song nói đến Sơn Tây là nói đến vùng đất giàu truyền thống văn hiến, kiên cường trong đấu tranh cách mạng, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất. Sơn Tây đã được nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Huân chương chiến công hạng Nhì, Huân chương lao động hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Nhì.

    Trong những năm vừa qua, Đảng bộ Thị xã đã tập trung phát triển kinh tế, đẩy mạnh phát triển dịch vụ, du lịch, đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị, Thị xã đã dần khang trang, sạch đẹp, hướng phát triển tương lai là đô thị loại II, Thành phố du lịch, dịch vụ của Thủ đô Hà Nội.

    Thị xã Sơn Tây không những là trung tâm kinh tế - văn hoá - xã hội của cả vùng mà còn là trung tâm đào tạo, huấn luyện quân đội của cả nước, có vị trí hết sức quan trọng về an ninh, quốc phòng , góp phần xây dựng khu vực phòng thủ vững trắc phía Tây của thủ đô Hà Nội.

    Qua trặng đường hình thành và phát triển trên có thể nói Thị xã Sơn Tây là một đô thị cổ của vùng đất Xứ Đoài ngàn năm văn hiến, có quá trình hình thành và phát triển lâu đời, xứng đáng là vùng đất địa linh, nhân kiệt, xứng đáng là thành phố, là cửa ngõ phía tây của Thủ đô Hà Nội. 20180319_202940. 2018-10-25. 24172808_1879456855717103_5632798384073237938_o. 20181115_175700-EFFECTS. IMG_20170821_111015. 08102013_DuongLam. DSCF0709.JPG
     
  16. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Huyện Phúc Thọ
    Tên cũ xưa kia là Phúc Lộc. Tên huyện Phúc Thọ có từ năm 1822, thuộc trấn Sơn Tây.

    Sau năm 1945, Phúc Thọ thuộc tỉnh Sơn Tây.

    Ngày 21 tháng 4 năm 1975, Phúc Thọ thuộc tỉnh Hà Tây1 .

    Ngày 27 tháng 12 năm 1975, Phúc Thọ thuộc tỉnh Hà Sơn Bình2 , gồm 17 xã: Cẩm Đình, Hát Môn, Long Xuyên, Ngọc Tảo, Phúc Hòa, Phụng Thượng, Phương Độ, Sen Chiểu, Tam Thuấn, Thanh Đa, Thọ Lộc, Thượng Cốc, Vân Hà, Vân Nam, Vân Phúc, Võng Xuyên, Xuân Phú.

    Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Phúc Thọ được nhập về Hà Nội3 .

    Ngày 17 tháng 2 năm 1979, sáp nhập thêm 3 xã của huyện Quốc Oai là Tam Hiệp, Hiệp Thuận, Liên Hiệp4 .

    Ngày 2 tháng 6 năm 1982, chuyển 2 xã Tích Giang, Trạch Mỹ Lộc của huyện Ba Vì về huyện Phúc Thọ quản lý5 .

    Ngày 12 tháng 8 năm 1991, huyện lại trả về cho tỉnh Hà Tây vừa được tái lập6 .

    Ngày 29 tháng 8 năm 1994, thành lập thị trấn Phúc Thọ trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của hai xã Phúc Hòa và Thọ Lộc.

    Ngày 29 tháng 5 năm 2008, một lần nữa huyện lại được sáp nhập vào Hà Nội7

    (Phần thị trấn Phúc Thọ hiện nay là một phần xã Phúc Hòa và xã Thọ Lộc được tách ra để thành lập thị trấn mới. Xã Thọ Lộc và xã Phúc Hòa trước Cách mạng tháng Tám là tổng Lạc Trị thuộc huyện Thạch Thất, chỉ chuyển về Phúc Thọ sau năm 1954. Trước đây 2 xã Tích Giang và Trạch Mỹ Lộc thuộc huyện Tùng Thiện, được chuyển về Phúc Thọ sau năm 1982).

    Huyện Phúc Thọ có tổng Lạc Trị (tên dưới thời Pháp thuộc) là quê hương cách mạng, có nhiều người theo Việt Minh chống Nhật và Pháp, có nhiều cán bộ cách mạng thời kỳ 1940-1954, làng Kiều Trung là địa phương kiên cường chống Nhật, hiện tại bảo tàng lịch sử Hà Nội có trưng bày kỷ vật là chiếc mõ tre kháng Nhật (1945). (Bảo tàng ghi nhầm là thôn Kiến Trung).

    Cửa Hát Môn là một địa danh lịch sử nơi hai bà Trưng nhảy xuống tuẫn tiết khi thất thế trước quân nhà Hándo Mã Viện chỉ huy. Hiện nay ở đây còn có đền thờ Hai Bà Trưng.

    Vào thời Pháp thuộc, người Pháp muốn cải tạo hệ phân lũ sông Hồng, họ đã xây dựng công trình đập Đáy, nhằm mục tăng lưu lượng dòng chảy của sông Hồng về mùa cạn và phân lũ vào bồn trũng hạ lưu sông Đáy (các tỉnh Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) mỗi khi có lũ lụt lớn vào mùa mưa. Nhưng công trình này hiếm khi phát huy tác dụng vào mùa lũ, làm cho đoạn sông Đáy phía hạ lưu đập trở nên gần như là đoạn sông chết. DTQGDB_Den Hat Mon. images (2).
     
  17. trai nguyenbac

    trai nguyenbac Hội Phó - Trưởng Ban Tài Chính Hội Chắn Hà Tây

    Có một anh chàng nọ
    Làm quần quật luôn tay
    Nên bỗng ghen với vợ
    Được ở nhà suốt ngày

    Anh chàng than với Chúa:
    “Con khổ quá Chúa ơi
    Ngày phải làm 10 tiếng
    Trong khi, vợ thảnh thơi

    Con xin thành cô ấy
    Còn cô ấy thành con
    Cho nếm thử mùi vị
    Thử làm chồng có ngon?”

    Chúa thương tình đồng ý
    Đổi giới tính hai người
    Cô vợ không ý kiến
    Còn chồng sung sướng cười

    Sáng hôm sau tỉnh giấc
    Chàng vội vã nấu ăn
    Hò hét kêu con dậy
    Rồi quýnh quáng gập chăn

    Sắp từng cái quần áo
    Cả bốn “đứa” trong nhà
    Cho ăn, đèo đi học
    Cuống lên vì trường xa

    Rồi quay về đi chợ
    Hoa quả với thức ăn
    Đồ bẩn đem đi giặt
    Kẻo “chồng” về cằn nhằn

    Đoạn quay sang chế biến
    Nấu ăn cho thật ngon
    Tranh thủ chờ cơm chín
    Phi tới trường đón con

    Ăn xong lại rửa bát
    Lau bếp núc sàn nhà
    Tắm cho mèo, cho chó
    Toàn những việc đàn bà

    Chưa được nghỉ một tí
    Lại phải đưa con đi
    Học thêm và học nếm
    Chuẩn bị thi học kỳ

    Loanh quanh mà nháy mắt
    Trời đã chuyển sang chiều
    Lại đón con, nấu nướng
    Rồi phục dịch “chồng” yêu

    (Sau khi rửa xong bát
    Thì đã 21 giờ
    Anh “chồng” mà trước đó
    Là vợ - cứ nằm chờ)

    Một ngày thở ra khói
    Vừa leo lên giường nằm
    “Chồng” đã khều chân gãi:
    Chúng mình chơi “đào hầm”!

    Dù trong lòng không thích
    Vì mệt rũ cả người
    Nhưng vẫn cứ phải cố
    Giúp chồng được “xả hơi”

    *
    Sáng hôm sau gặp Chúa
    Anh vội vã khẩn cầu:
    “Làm đàn bà mệt quá
    Con không thích nữa đâu!

    Con đã biết lỗi lớn
    Có mắt mà như không
    Giờ con mới thấy khổ
    Xin trở lại làm chồng!”

    Chúa vuốt râu cười lớn:
    “Ta mới vui làm sao
    Khi con đã hiểu rõ
    Làm vợ mệt thế nào

    Giờ con muốn trở lại
    Ta có tiếc gì đâu
    Nhưng phải sau 9 tháng
    Vì con đã dính… “bầu”
     
  18. tamdohaile

    tamdohaile Hội Chắn Hà Tây

    Rượu nhạt uống lắm cũng say,,,
    Nâng chén tiêu Sầu càng sầu thêm""
    Hãy cho nhau những gì ta đang có,
    Nếu Nỡ mai nầy không có gì để cho nhau...!
     
  19. tamdohaile

    tamdohaile Hội Chắn Hà Tây

    ::;Thuế má Đàng hoàng xong u nó lăn ra ngủ ông có cầy đến 5h sáng nó cũng kệ
     
  20. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    + Khu uỷ III tách Lưỡng Hà thành 2 tỉnh: Hà Đông, Hà Nội, và do vậy, lúc này, Đan Phượng thuộc huyện Liên Bắc tỉnh Hà Đông.
    + Tháng 12 năm 1952, phần lớn địa bàn Đan Phượng thuộc bắc Liên Bắc do Ban cán sự bắc Liên Bắc nắm, ranh giới là đường quốc lộ 11A (32) để việc chỉ đạo phong trào kháng chiến được sâu sát, kịp thời hơn.
    • Tháng 4 năm 1954, huyện Đan Phượng được tái lập và thuộc tỉnh Sơn Tây quản lý theo quyết định của Liên khu uỷ III.
    • Tháng 8 năm 1954, huyện Đan Phượng được Liên khu uỷ III cắt chuyển trả lại cho tỉnh Hà Đông.
    • Ngày 20 tháng 4 năm 1961, 5 xã thuộc huyện Đan Phượng là Tân Dân (Thượng Cát), Tân Tiến (Liên Mạc), Trần Phú (Phú Diễn), Trung Kiên (Tây Tựu) và Minh Khaiđược cắt chuyển về huyện Từ Liêm (Hà Nội) theo quyết định của Quốc hội tại kì họp thứ 2 (Khóa II) (nay là địa bàn các phường Thượng Cát, Liên Mạc, Phú Diễn, Phúc Diễn, Tây Tựu, Minh Khai thuộc quận Bắc Từ Liêm).[1]
    • Ngày 21 tháng 4 năm 1965, huyện Đan Phượng thuộc quyền quản lý của tỉnh mới Hà Tây.[2]
    • Ngày 27 tháng 12 năm 1975, huyện Đan Phượng là một trong 24 đơn vị hành chính của tỉnh Hà Sơn Bình, gồm 15 xã: Đan Phượng, Đồng Tháp, Hạ Mỗ, Hồng Hà, Liên Hà, Liên Hồng, Liên Trung, Phương Đình, Song Phượng, Tân Hội, Tân Lập, Thọ An, Thọ Xuân, Thượng Mỗ, Trung Châu.[3]
    • Từ ngày 29 tháng 12 năm 1978 đến ngày 12 tháng 8 năm 1991, huyện Đan Phượng được cắt chuyển về thành phố Hà Nội theo quyết định của Quốc hội tại kì họp thứ 4 (khoá VI) vào cuối tháng 12 năm 1978.[4]
    • Từ ngày 12 tháng 8 năm 1991 đến ngày 29 tháng 5 năm 2008, huyện Đan Phượng là một trong 14 đơn vị hành chính của tỉnh Hà Tây theo quyết định của Quốc hội tại kì họp thứ 9 (khoá VIII) vào ngày 12 tháng 8 năm 1991.[5]
    • Ngày 29 tháng 8 năm 1994: thành lập thị trấn Phùng, gồm phần đất của các xã Đan Phượng, Đồng Tháp và Song Phượng.
    • Ngày 29 tháng 5 năm 2008, giải thể tỉnh Hà Tây cũ, huyện Đan Phượng thuộc thành phố Hà Nội theo Nghị quyết 15-NQ/QH.