ĐỐ VUI CÓ THƯỞNG

Thảo luận trong 'Hội Bô Lão Sân Đình' bắt đầu bởi Nguyễn Tiểu Thương, 13/1/19.

  1. aaaoooeee

    aaaoooeee Dân đen

    từ dễ tiếng việt được tạo ra dựa trên mô hình trung quốc bởi vì mỗi âm tiết có một ý nghĩa rõ ràng ta có thể dễ dàng hiểu nghĩa từ ghép nếu ta biết được nghĩa của từng thành phần trong từ ghép
    id 3897470
    nick aaaoooeee
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  2. Diêm La Trần Gian

    Diêm La Trần Gian Chánh tổng

    Gà Tre hay Gà Che?

    Hồi xưa, Cháu toàn nghe mọi người nói là "Gà che". Sau này đi học, thấy sách vở viết là Gà Tre, nghe riết quen, nên cứ nghĩ Gà Tre là đúng.

    Nhiều người giải thích, vì con gà nó ốm như cây tre (?!) nên gọi là Gà Tre. Nhưng thật ra không phải vậy.

    "Che" là từ gốc Khmer. Trong quyển sách "Phong lưu cũ mới", Vương Hồng Sển có giải thích rằng: Gà Che là do xuất phát từ chữ Khmer mon-che (nghĩa là Gà rừng xứ thổ). Gà Che nó hay sống ở quanh bụi Tre thật, nhưng nó là Gà Che chứ không phải là Gà Tre.

    Có rất nhiều từ vựng tiếng Việt do phát âm sai, đọc sai... nên thành ra lâu dần nó cũng thành từ đúng, rất khó để chỉnh sửa sau này. Giả sử sau này, lỡ mà ghi là "Gà che", ai bắt bẻ chắc phải lật sách vở ra để cãi lại. Phiền vô cùng.

    Hồi xưa, người miền Tây hay gọi là "quá chờiiii", sau này mọi người sửa lại thành "quá trời", rồi "quá trời quá đất". Nhưng thật ra từ "quá chời" mới có nghĩa. Trong quyển sách "Tự vị tiếng nói miền Nam", Vương Hồng Sển có giảng: "chời" nghĩa là nhiều, dư ra. "Chời" chính là từ tiếng của người Triều Châu, nghĩa là "đa". Trong các quyển tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh hay dùng từ "quá đa" cũng là cùng nghĩa đó. Từ "quá trời quá đất" ghép vào thì cũng có nghĩa là cái gì đó rất rộng lớn, nhiều. Nhưng nó xuất phát từ chữ "quá chời", và từ này không sai nghĩa.

    Cũng giống như từ "khúc mắc" và "khúc mắt". Mọi người nghĩ đâu là từ đúng? Sách vở bây giờ hay dùng từ "khúc mắc", nhưng thật chất, "khúc mắt" mới là từ đúng. Theo Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của: "khúc" có nghĩa là đoạn, khoản, có lóng có mắt. "Khúc mắt" là một cây có nhiều đoạn, nhiều mắt, không trơn tru. Chuyện khúc mắt là chuyện rối rắm, nan giải, khó gỡ. Từ vựng Tiếng Việt đa phần là xuất phát từ tiếng Triều Châu, Hán Việt và thiên nhiên mà ra, bao gồm thế giới thực vật như "tảo tần", động vật như "do dự", nông nghiệp như "mầm mống", thủ công nghiệp như "mực thước"...v...v...

    Tuy nhiên, chính tả là thứ có thể thay đổi theo thời gian. Nhiều người viết sai quá rồi nó thành từ đúng. Hoặc đôi khi từ viết sai đó, phân tích ra nó cũng đáp ứng được đúng ý nghĩa cần truyền đạt, thì nó cũng được là từ đúng.

    Quan điểm của cháu là tiếng việt mình còn không thuần thì lấy tư cách gì đi so sánh ngôn ngữ thế giới....
    Câu đố tháng 7 cháu không tham gia... Chỉ viết chút cảm nghĩ thôi
     
    THIÊN_VINH, chachavn1Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  3. Diêm La Trần Gian

    Diêm La Trần Gian Chánh tổng

    @chachavn1 đọc xong bài em này viết em cảm thấy hoang mang quá.... Không lẽ qoang 1 đoạn tiếng trung cho em ấy dịch:D:D:DB-):D:D:D:D
     
    chachavn1Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  4. thao96pb

    thao96pb HC Hà Tây

    Cháu/em có một vài suy luận về câu hỏi Đố Vui Có Thưởng của các chú/anh và mạn phép trả lời :
    1. Thời điểm nhạy cảm nhất để tiếp thu ngôn ngữ của trẻ.
    Người ta nói MÙ CHỮ chứ không ai nói MÙ NÓI một ngôn ngữ nào cả, thời điểm học ngôn ngữ tốt nhất là từ 0-3 tuổi, giai đoạn này các nhà nghiên cứu gọi là "giai đoạn nhạy cảm nhất", càng lớn lên việc tiếp học một ngôn ngữ mới trở nên khó khăn hơn. "Giai đoạn nhạy cảm" này là giai đoạn để tạo ra một đứa trẻ nói tiếng mẹ đẻ. Trong thời gian này, bộ não của trẻ sơ sinh trở nên chuyên biệt để nghe những khác biệt tinh tế giữa các âm thanh của các ngôn ngữ mà chúng nghe được, và nó sẽ trở thành ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng sau này (một người có thể có 2 ngôn ngữ mẹ đẻ). Trẻ có thể phát âm ngay từ khi sinh ra. Đến khi trẻ được 3 đến 4 tuổi, trẻ nói được những câu dài và phức tạp. Từ vài tuần tuổi trẻ có thể phát ra các âm như aaa…o….ooo... Từ vài tháng tuôỉ trẻ có thể nói các từ như maaama, papa….. gọi là "Những tiếng bập bẹ kinh điển". Hơn 1 tuổi trở lên trẻ bắt đầu có thể nói các từ đơn và hơn 2,3 tuổi, trẻ có thể ghép từ và nói những câu phức tạp hơn. Đó là cách một bộ não của trẻ học một ngôn ngữ, sinh ra ở Việt Nam dù nghèo hay giàu thì một đứa trẻ được sống trong cộng đồng thì chắn chắn sẽ nói tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ

    2. Trẻ tiếp thu ngôn ngữ bằng nguồn nào
    TƯƠNG TÁC TRỰC TIẾP của trẻ với cha mẹ/ người chăm sóc có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trong vài tuần đầu tiên của cuộc đời, cha mẹ là người cung cấp phần lớn đầu vào ngôn ngữ cho con. Tuy nhiên, theo thời gian, trẻ thích nghi và tương tác qua lại với cha mẹ. Chúng vừa sử dụng giao tiếp âm thanh nói và phi âm thanh để trao đổi qua lại với cha mẹ, ví dụ ánh mắt, chỉ trỏ và bập bẹ... đó là cách chúng tiếp thu và học ngôn ngữ.

    Đúng 1 tuổi, trẻ không còn là người nhận đầu vào ngôn ngữ thụ động nữa. Chúng đã biết phát âm lại các với các âm tiết của ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Và lúc này trẻ bắt đầu đã có thể tự mình nói ra những lời đầu tiên của cuộc đời mình. Ví dụ là Papa, mama.

    Biểu đồ cho thấy từ 0-3 tuổi từ nghe thụ động trẻ có thể thốt ra các lời đầu tiên và các câu phức tạp với người mà chúng giao tiếp
    3. Số lượng và chất lượng của âm thanh làm đầu vào quyết định rất lớn.

    Tiếp thu ngôn ngữ là một quá trình trải nghiệm và đóng một vai trò quan trọng cho sự phát triển ngôn ngữ của con. Cả chất lượng và số lượng ngôn ngữ mà trẻ em nghe thấy liên quan rất lớn đến sự phát triển của ngôn ngữ.

    Có hiệu quả cao nhất vẫn là GIAO TIẾP TRỰC TIẾP, việc sử dụng nhiều từ, đặc biệt là từ mới với chất lượng của phát âm qua tương tác và trao đổi và vui chơi có tác dụng vượt trội, vì trẻ em là những người học tích cực. Nhiều nghiên cứu cho thấy 1 đứa trẻ sống trong một gia đình có quan tâm con cái, trao đổi gia đình, có môi trường giao tiếp tốt, thì 1 đứa trẻ có thể nghe đến 30 triệu từ khi lên 3 tuổi. Cùng trong 1 hoàn cảnh có trẻ em nghe được ít hơn 2.000 từ mỗi ngày nhưng cũng có trẻ được nghe đến gần 29.000 từ mỗi ngày từ nhiều người khác nhau. Vì vậy chất lượng và số lượng sẽ quyết định trải nghiệm ngôn ngữ của con, nên việc chúng ta đồng hành cùng con, tiếp thu nhiều từ mới từ Youtube (iphone, ipad, TV....) cũng là một điều kiện rất cần thiết để tăng vốn từ và chất lượng từ.

    4. Số lượng từ mà trẻ có thể nói được theo độ tuổi

    Trẻ sẽ nói được từ đầu tiên trong cuộc đời là từ 10-15 tháng tùy trẻ. Một đứa trẻ trung bình chỉ biết hơn 30 từ khi chúng được 15 tháng tuổi. Vì vậy, chúng chỉ học khoảng 10 từ mới mỗi tháng. Hầu hết các từ trong từ vựng ban đầu của trẻ em đều đề cập đến những điều trẻ em thường gặp phải. Trẻ em nói tên của những người thân, đồ ăn hoặc đồ uống, bộ phận cơ thể, động vật, quần áo, đồ chơi và xe cộ. Hoặc các từ mô tả tính hiển như như ngày/đêm, các hành động (lên, xuống), hoặc hiệu ứng âm thanh (bùm, chíu). Từ vựng ở giai đoạn sơ sinh hầu như là rất giống nhau ở bất kỳ ngôn ngữ / quốc gia nào.

    Sau khi trẻ em đã học được 50 từ đầu tiên, từ vựng của chúng thường bắt đầu phát triển với tốc độ nhanh. Sự tăng trưởng nhanh chóng về số lượng từ vựng này được gọi là "Bước nhảy vọt về từ vựng". Nó thường xảy ra nhất vào khoảng giữa năm con được 2 tuổi, nên chúng ta sẽ thấy con sẽ bi bô tối ngày ở lứa tuổi này.

    10 -14 tháng có thể con không nói được từ nào, nhưng đến 19 tháng con có thể nói đến 100 từ! Và tốc độ tăng lên nhanh chóng ở giai đoạn "Bước nhảy vọt về từ vựng" từ tháng thứ 19.

    5. Cách trẻ học ghép từ

    Trẻ chỉ mất vài tháng để học phát âm từ đơn. Sau đó, trẻ bắt đầu học ghép 2 từ. Ghép hai từ của trẻ tương tự nhau trên các ngôn ngữ và các nền văn hóa. Trẻ ghép từ khi cha mẹ yêu cầu hoặc trẻ muốn mô tả một hành động gì đó ví dụ " măm măm" ..
    Cảm ơn các chú/anh đã đọc bài lần đầu dự thi ạ..
    nick : thao96pb
    Id : 4866557 .
     
    Seo 1976Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  5. chachavn1

    chachavn1 Chánh tổng

    Kệ e
     
  6. Spider1986

    Spider1986 Dân đen

    Bên trên có nhà nghiên cứu hay giáo sư gì post bài dài quá, cháu ít chữ thôi cứ nêu quan điểm của mình chứ không dám thi thố thì với các cụ ấy nữa!!!! :):):)
    Tiếng Việt là hồn Việt, cháu mượn câu của Bác Võ Nguyên Giáp từng nói: trên thế giới chỉ có 2 dân tộc mà trải qua hàng ngàn năm bị đô hộ nhưng vẫn giữ được tiếng nói, đó là dân tộc Israel và dân tộc Việt Nam.
    chữ viết có thể thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử nhưng Tiếng Việt từ ngàn xưa vẫn được truyền lại, kế thừa và phát huy tinh hoa. Tiếng Việt thấm vào tâm hồn mỗi người Việt qua từng lời ru, câu ca dao, câu hò, điệu lý... của bà của mẹ. Mỗi vùng miền lại có các lưu giữ tiếng Việt qua các loại hình nghệ thuật dân tộc riêng như tuồng, chèo, hò, vè, cải lương....
    Tiếng Việt giàu và đẹp cũng từ đó!!!
     
  7. Seo 1976

    Seo 1976 Hội Phó - Trưởng Ban Pháp Chế Hội Chắn Hà Tây

    Chắc lão @Tào Tháo thiên vị á kkk . Thấy gái xuynh là sáng mắt ra kkk..
     
    Nguyễn Tiểu ThươngTào Tháo thích điều này.
  8. Diêm La Trần Gian

    Diêm La Trần Gian Chánh tổng

    Câu đố tháng 7 ít người tham gia quá..... Có lẽ tháng 8 mua thu sẽ có nhiều cái để nói hơn tháng 7
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  9. THIÊN_VINH

    THIÊN_VINH Tiêu Dao Hội

    Ban tổ chức chắc bị Tẩu hỏa nhập ma về bài dự thi này quá :)):)):))
     
    chachavn1Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  10. Chịu xem là biết thôi mà

    “Thanh điệu Quan Thoại” người Hoa nay dùng

    Thiên Vinh vốn “Trại Ngọa Long”

    Cứ chọc các cụ não lòng lắm nghe

    TRình làng chắn, vậy là phê

    Nếu không rành rõ, rinh về có công

    Thiên Vinh có tỏ lòng không?...


    :):):)=))=))=)):x:x:x
     
    Seo 1976THIÊN_VINH thích điều này.
  11. Diêm La Trần Gian

    Diêm La Trần Gian Chánh tổng

    Tính cái câu đố tháng 7 này cháu không tham gia đâu. Nhưng suy nghĩ lại viết vài dòng có khi được giải nhất... Nên viết bài dự thi vậy.

    Ưu điểm của tiếng việt: sự đơn giản, thuận tiện, dễ viết, dễ đọc.
    - Là chữ đơn giản về hình thức, kết cấu.
    - Là loại chữ ghi âm tiếng nói nên giữa cách viết và cách đọc có sự phù hợp ở mức độ cao.
    Chỉ cần học thuộc bảng chữ cái và cách ghép vần là có thể đọc được tất cả mọi chữ trong tiếng việt.
    Dễ phổ cập.
    - Tính quốc tế hóa cao vì xuất thân từ ngữ hệ la tinh thông dụng trên thế giới.

    Id 4819660
    Ních diêm la trần gian
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  12. hungngoduc

    hungngoduc Chánh tổng

    I. Lịch sử phát triển của tiếng Việt

    - Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt, đồng thời là ngôn ngữ chính thức trong các lĩnh vực hành chính, ngoại giao, giáo dục…

    - Quá trình phát triển của tiếng Việt chia làm bốn thời kì:

    1. Tiếng Việt trong thời kì dựng nước.

    Tiếng Việt có lịch sử phát triển lâu đời cùng với nền văn minh lúa nước, phát triển thêm một bước dưới thời Văn Lang - Âu Lạc, tiếng Việt đương thời đã có kho từ vựng phong phú và những hình thức diễn đạt uyển chuyển, đáp ứng yêu cầu giao tiếp xã hội.

    a). Nguồn gốc tiếng Việt.

    Tiếng Việt có nguồn gốc bản địa, nguồn gốc và tiến trình phát triển của tiếng Việt gắn bó với nguồn gốc và tiến trình phát triển của dân tộc Việt. Tiếng Việt được xác định thuộc họ ngôn ngữ Nam Á.

    b). Quan hệ họ hàng của tiếng Việt.

    - Trong nhiều thiên niên kỉ, qua sự tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ thuộc các họ ngôn ngữ khác, họ ngôn ngữ Nam Á đã phân chia thành một số dòng, trong đó có dòng Môn - Khmer. Hai ngôn ngữ Môn và Khmer được lấy làm tên gọi cho dòng vì đó là hai ngôn ngữ sớm có chữ viết; những dân tộc nói hai ngôn ngữ này đã xây dựng nên những nền văn hóa khá phát triển.

    - Từ dòng Môn - Khmer đã tách ra tiếng Việt Mường chung (tiếng Việt cổ) và cuối cùng tách ra thành tiếng Việt và tiếng Mường. Khi đối chiếu tiếng Việt với tiếng Mường, có thể thấy sự tương ứng về ngữ âm, ngữ nghĩa của nhiều từ.

    - Theo các nhà nghiên cứu, tiếng Việt thời xưa chưa có thanh điệu; trong hệ thống âm đầu, ngoài phụ âm đơn còn có phụ âm kép.

    - Từ thời dựng nước, trong quá trình giao hòa với nhiều dòng ngôn ngữ trong vùng, tiếng Việt với cội nguồn Nam Á đã sớm tạo dựng cơ sở vững chắc để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển trước sự xâm nhập ồ ạt của ngôn ngữ, văn tự Hán ở những thế kỉ đầu Công nguyên.

    2. Tiếng Việt trong thời kì Bắc thuộc và chống Bắc thuộc.

    - Trong quá trình phát triển, tiếng Việt đã có quan hệ tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ khác trong khu vực. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán đã diễn ra lâu dài và sâu rộng nhất.

    - Thời Bắc thuộc, tiếng Hán theo nhiều ngả đường đã truyền vào Việt Nam. Với chính sách đồng hóa của phong kiến phương Bắc, tiếng Việt bị chèn ép nặng nề. Nhưng trong gần một nghìn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc cũng là thời gian đấu tranh để bảo tồn và phát triển tiếng nói của dân tộc.

    - Tiếng Việt, với nguồn gốc Nam Á, có nhiều đặc trưng khác tiếng Hán, tuy nhiên, trong quá trình tiếp xúc, để tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tiếng Việt đã vay mượn rất nhiều từ ngữ Hán. Chiều hướng chủ đạo của việc vay mượn này là Việt hóa về mặt âm đọc, ý nghĩa và phạm vi sử dụng. Với hướng Việt hóa âm đọc của chữ Hán, qua nhiều thế kỉ, người Việt đã xác lập được cách đọc chữ Hán riêng biệt, gọi là cách đọc Hán Việt (hoặc âm Hán Việt của chữ Hán). Từ ngữ Hán được vay mượn bằng nhiều cách như rút gọn, đảo lại vị trí các yếu tố, đổi yếu tố (trong các từ ghép), đổi nghĩa hoặc thu hẹp, mở rộng nghĩa... Nhiều từ Hán được dùng như yếu tố tạo từ để tạo ra nhiều từ ghép chỉ thông dụng trong tiếng Việt.

    - Trong thời kì Bắc thuộc, tiếng Việt đã phát triển mạnh mẽ nhờ những cách thức vay mượn theo hướng Việt hóa. Những cách thức Việt hóa làm phong phú cho tiếng Việt cả ở những thời kì sau này và cho đến ngày nay.

    3. Tiếng Việt dưới thời kì độc lập tự chủ.

    - Từ thế kỉ XI, cùng với việc xây dựng và củng cố nhà nước phong kiến độc lập ở nước ta, Nho học được đề cao và giữ vị trí độc tôn. Việc học ngôn ngữ - văn tự Hán được các triều đại Việt Nam chủ động đẩy mạnh. Một nền văn chương chữ Hán mang sắc thái Việt Nam hình thành và phát triển.

    - Nhờ những hoạt động ngôn ngữ - văn hóa được đẩy mạnh, trong đó có việc vay mượn từ ngữ Hán theo hướng Việt hóa, tiếng Việt ngày càng phong phú, tinh tế, uyển chuyển. Dựa vào việc vay mượn một số yếu tố văn tự Hán, một hệ thống chữ viết được xây dựng nhằm ghi lại tiếng Việt, đó là chữ Nôm.

    - Với chữ Nôm, tiếng Việt khẳng định những ưu thế trong sáng tác thơ văn, ngày càng trở nên tinh tế, trong sáng, uyển chuyển, phong phú.

    4. Tiếng Việt trong thời kì Pháp thuộc

    - Dưới thời Pháp thuộc, mặc dù chữ Hán mất địa vị chính thống nhưng tiếng Việt vẫn tiếp tục bị chèn ép. Ngôn ngữ hành chính, ngoại giao, giáo dục lúc này là tiếng Pháp.

    - Cùng với sự thông dụng của chữ quốc ngữ và việc tiếp nhận những ảnh hưởng tích cực của ngôn ngữ - văn hóa phương Tây (chủ yếu là Pháp), văn xuôi tiếng Việt hiện đại đã hình thành và phát triển. Báo chí, sách vở tiếng Việt (chữ quốc ngữ) ra đời, nhiều thể loại mới như văn xuôi nghị luận chính trị - xã hội, văn xuôi phổ biến khoa học - kĩ thuật, tiểu thuyết, kịch đã xuất hiện và chiếm lĩnh những vị trí của văn xuôi chữ Hán và thơ phú cổ điển. Nhiều từ ngữ, thuật ngữ mới được sử dụng, tuy chủ yếu vẫn là từ Hán Việt hoặc từ gốc Pháp… Thơ mới xuất hiện với hình thức ngôn từ không bị ràng buộc về số chữ, số câu, về bằng trắc, niêm luật, đối ngẫu... Những hoạt động sôi nổi của văn chương, báo chí làm cho tiếng Việt thêm phong phú, uyển chuyển.

    - Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, đặc biệt sau khi bản Đề cương văn hóa Việt Nam được công bố năm 1943, tiếng Việt càng tỏ rõ tính năng động và tiềm năng phát triển.

    5. Tiếng Việt từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay.

    - Sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (năm 1954), công cuộc xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học và chuẩn hóa tiếng Việt được tiến hành mạnh mẽ.

    - Hầu hết các ngành khoa học - kĩ thuật hiện đại đều biên soạn những tập sách thuật ngữ chuyên dùng, chủ yếu dựa trên ba cách thức sau:

    + Phiên âm thuật ngữ khoa học của phương Tây (chủ yếu là qua tiếng Pháp).

    + Vay mượn thuật ngữ khoa học - kĩ thuật qua tiếng Trung Quốc (đọc theo âm Hán Việt).

    + Đặt thuật ngữ thuần Việt (dịch ý hoặc sao phỏng).

    - Những thuật ngữ khoa học đang thông dụng trong tiếng Việt đều đạt được tính chuẩn xác, tính hệ thống, giản tiện, phù hợp với tập quán sử dụng ngôn ngữ của người Việt Nam.

    - Với bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2/9/1945, tiếng Việt đã có vị trí xứng đáng trong một đất nước độc lập, tự do. Chức năng xã hội của tiếng Việt được mở rộng, thay thế hoàn toàn tiếng Pháp trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và của toàn dân, kể cả lĩnh vực đối ngoại. Tiếng Việt được dùng ở mọi bậc học, được coi như ngôn ngữ quốc gia.

    II. Chữ viết của tiếng Việt

    - Chữ viết là công cụ đắc lực cho hoạt động ngôn ngữ - văn hóa. Vì vậy, các dân tộc đều xây dựng hệ thống chữ viết, hoặc tự sáng tạo hoặc vay mượn, cải tiến chữ viết của các ngôn ngữ khác để ghi lại ngôn ngữ của dân tộc mình.

    - Theo truyền thuyết và dã sử, từ thời xa xưa, người Việt cổ đã có chữ viết riêng. Cùng với sự du nhập và truyền bá ngôn ngữ - văn tự Hán, chữ Nôm đã xuất hiện. Chữ Nôm là một hệ thống chữ viết ghi âm, dùng chữ Hán hoặc bộ phận chữ Hán được cấu tạo lại để ghi tiếng Việt theo nguyên tắc ghi âm tiết, trên cơ sở cách đọc chữ Hán của người Việt (âm Hán Việt).

    - Vào nửa đầu thế kỉ XVII, một số giáo sĩ phương Tây đã dựa vào chữ cái Latinh để xây dựng thứ chữ mới ghi âm tiếng Việt là chữ quốc ngữ.

    - Chữ quốc ngữ ở thời kì đầu chưa phản ánh khoa học cơ cấu ngữ âm tiếng Việt, còn chịu nhiều ảnh hưởng của cách ghi âm theo tiếng nước ngoài.

    - Trong gần hai thế kỉ tiếp theo, chữ quốc ngữ được cải tiến, đạt tới hình thức ổn định và hoàn thiện như ngày nay. Chữ quốc ngữ đơn giản về hình thể kết cấu, sử dụng các chữ cái Latinh thông dụng trên thế giới. Ở chữ quốc ngữ, giữa chữ và âm, giữa cách viết và cách đọc có sự phù hợp cao. Chỉ cần học thuộc bảng chữ cái và cách ghép vần là có thể đọc được tất cả mọi chữ trong tiếng Việt.

    - Lúc đầu, chữ quốc ngữ chỉ là một công cụ truyền giáo, dùng ghi chép công việc trong nhà thờ, phạm vi sử dụng chỉ hạn chế trong các xứ đạo.

    - Cuối thế kỉ XIX, đã xuất hiện các văn bản chữ quốc ngữ ghi lại các truyện Nôm, đến đầu thế kỉ XX, chữ Hán và chữ Nôm bị gạt bỏ khỏi lĩnh vực hành chính, học hành thi cử. Việc sử dụng chữ quốc ngữ được đẩy mạnh.

    - Trong quá trình đấu tranh giành lại độc lập, tự do, Đảng ta rất chú ý đến việc phổ cập chữ quốc ngữ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào “Truyền bá quốc ngữ” với tổ chức là Hội truyền bá quốc ngữ được triển khai rộng rãi và thu được kết quả khả quan.

    - Tháng Tám năm 1945, Cách mạng Việt Nam giành thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Từ đó, cùng với tiếng Việt, chữ quốc ngữ cũng giành được địa vị xứng đáng trong mọi lĩnh vực hoạt động của đất nước.
    III. Sự ưu việt của tiếng Việt khi đứa trẻ học nói đó là: trẻ khi tập nói có thể tự bập bẹ một số từ đơn giản như ; bà , mẹ.
    - Mặc dù chưa biết mặt chữ những trẻ vẫn có thể tự ghép các chữ cái để tạo thành chữ và câu có ý nghĩa.
    - Do tiếng Việt không có thì nên trẻ có thể nói diễn tả được ý nghĩa của câu rõ ràng phù hợp với ngữ cảnh.
    Trên đây là một số điểm mà cháu tìm hiểu được.
    Id 1199
    Nik hungngoduc
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  13. 0983193293

    0983193293 Chánh tổng

    Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập, tức là mỗi một tiếng (âm tiết) được phát âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết. Đặc điểm này thể hiện rõ rệt ở tất cả các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.

    1. Đặc điểm ngữ âm: Trong tiếng Việt có một loại đơn vị đặc biệt gọi là "tiếng". Về mặt ngữ âm, mỗi tiếng là một âm tiết. Hệ thống âm vị tiếng Việt phong phú và có tính cân đối, tạo ra tiềm năng của ngữ âm tiếng Việt trong việc thể hiện các đơn vị có nghĩa. Nhiều từ tượng hình, tượng thanh có giá trị gợi tả đặc sắc. Khi tạo câu, tạo lời, người Việt rất chú ý đến sự hài hoà về ngữ âm, đến nhạc điệu của câu văn.

    2. Đặc điểm từ vựng: Mỗi tiếng, nói chung, là một yếu tố có nghĩa. Tiếng là đơn vị cơ sở của hệ thống các đơn vị có nghĩa của tiếng Việt. Từ tiếng, người ta tạo ra các đơn vị từ vựng khác để định danh sự vật, hiện tượng..., chủ yếu nhờ phương thức ghép và phương thức láy.

    Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức ghép luôn chịu sự chi phối của quy luật kết hợp ngữ nghĩa, ví dụ: đất nước, máy bay, nhà lầu xe hơi, nhà tan cửa nát... Hiện nay, đây là phương thức chủ yếu để sản sinh ra các đơn vị từ vựng. Theo phương thức này, tiếng Việt triệt để sử dụng các yếu tố cấu tạo từ thuần Việt hay vay mượn từ các ngôn ngữ khác để tạo ra các từ, ngữ mới, ví dụ: tiếp thị, karaoke, thư điện tử (e-mail), thư thoại (voice mail), phiên bản (version), xa lộ thông tin, siêu liên kết văn bản, truy cập ngẫu nhiên, v.v.

    Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức láy thì quy luật phối hợp ngữ âm chi phối chủ yếu việc tạo ra các đơn vị từ vựng, chẳng hạn: chôm chỉa, chỏng chơ, đỏng đa đỏng đảnh, thơ thẩn, lúng lá lúng liếng, v.v.

    Vốn từ vựng tối thiểu của tiếng Việt phần lớn là các từ đơn tiết (một âm tiết, một tiếng). Sự linh hoạt trong sử dụng, việc tạo ra các từ ngữ mới một cách dễ dàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vốn từ, vừa phong phú về số lượng, vừa đa dạng trong hoạt động. Cùng một sự vật, hiện tượng, một hoạt động hay một đặc trưng, có thể có nhiều từ ngữ khác nhau biểu thị. Tiềm năng của vốn từ ngữ tiếng Việt được phát huy cao độ trong các phong cách chức năng ngôn ngữ, đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Hiện nay, do sự phát triển vượt bậc của khoa học-kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, thì tiềm năng đó còn được phát huy mạnh mẽ hơn.

    3. Đặc điểm ngữ pháp: Từ của tiếng Việt không biến đổi hình thái. Đặc điểm này sẽ chi phối các đặc điểm ngữ pháp khác. Khi từ kết hợp từ thành các kết cấu như ngữ, câu, tiếng Việt rất coi trọng phương thức trật tự từ và hư từ.

    Việc sắp xếp các từ theo một trật tự nhất định là cách chủ yếu để biểu thị các quan hệ cú pháp. Trong tiếng Việt khi nói "Anh ta lại đến" là khác với "Lại đến anh ta". Khi các từ cùng loại kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ thì từ đứng trước giữ vai trò chính, từ đứng sau giữ vai trò phụ. Nhờ trật tự kết hợp của từ mà "củ cải" khác với "cải củ", "tình cảm" khác với "cảm tình". Trật tự chủ ngữ đứng trước, vị ngữ đứng sau là trật tự phổ biến của kết cấu câu tiếng Việt.

    Phương thức hư từ cũng là phương thức ngữ pháp chủ yếu của tiếng Việt. Nhờ hư từ mà tổ hợp "anh của em" khác với ttổ hợp "anh và em", "anh vì em". Hư từ cùng với trật tự từ cho phép tiếng Việt tạo ra nhiều câu cùng có nội dung thông báo cơ bản như nhau nhưng khác nhau về sắc thái biểu cảm. Ví dụ, so sánh các câu sau đây:

    - Ông ấy không hút thuốc.

    - Thuốc, ông ấy không hút.

    - Thuốc, ông ấy cũng không hút.

    Ngoài trật tự từ và hư từ, tiếng Việt còn sử dụng phương thức ngữ điệu. Ngữ điệu giữ vai trò trong việc biểu hiện quan hệ cú pháp của các yếu tố trong câu, nhờ đó nhằm đưa ra nội dung muốn thông báo. Trên văn bản, ngữ điệu thường được biểu hiện bằng dấu câu. Chúng ta thử so sánh 2 câu sau để thấy sự khác nhau trong nội dung thông báo:

    - Đêm hôm qua, cầu gãy.

    - Đêm hôm, qua cầu gãy.

    Qua một số đặc điểm nổi bật vừa nêu trên đây, chúng ta có thể hình dung được phần nào bản sắc và của tiếng Việt.
    Khi trẻ học nói tiếng Việt có thể không biết mặt chữ nhưng vẫn có thể nói và ghép được hết các từ để tạo thành câu nói có nghĩa.

    Id 2031
    Nik 0983193293
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  14. Tào Tháo

    Tào Tháo Đại Gian Thần

    Nhớ năm một nghìn chín trăm bao nhiêu ý, lúc mới sang Việt Nam. Ra ngoài đường thấy hai người, một đi xe đạp, một đi bộ gặp nhau họ nói chuyện thế này:
    Ông đi xe đạp : Đi đâu đấy
    Ông đi bộ : Ừ, đi đâu đấy

    Nghĩ mãi vẫn không hiểu. Câu đầu rõ ràng là một câu hỏi - Ông đi xe đạp hỏi ông đi bộ là đi đâu đấy. Ông đi bộ đã không thèm trả lời lại còn hỏi vặn lại ông đi xe đạp là sao nhỉ :)):)):))


     
    Seo 1976Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  15. Seo 1976

    Seo 1976 Hội Phó - Trưởng Ban Pháp Chế Hội Chắn Hà Tây

    Các chắn thủ coppy bài hay quá .. Em đọc mà hoa hết cả mắt, không biết chú @Tào Tháo có đọc kịp hết các bài không.. ??
    Quan ngại quá ạ !!!
    Cháu/em tếu táo tý cho vui ạ.. Mong các cụ Bô Lão đại xá .
     
  16. Khái quát về lịch sử tiếng Việt
    I. Lịch sử phát triển của tiếng Việt
    1. Tiếng Việt trong thời kì dựng nước
    a. Nguồn gốc tiếng Việt
    - Có nguồn gốc bản địa.
    - Thuộc họ ngôn ngữ Nam Á.
    b. Quan hệ họ hàng của tiếng Việt
    - Tiếng Việt thuộc họ Môn- Khơ me.
    - Quan hệ họ hàng tiếng Mường, Khơme, Ba-na, Ca-tu.
    - Quan hệ tiếp xúc tiếng Thái, tiếng Hán.
    Việt (Ngày, mưa…) – Mường (Ngài, mươ…)
    Việt (cổ, chân…) – Khme (Ko, chơơng…)
    2. Tiếng Việt trong thời kì Bắc thuộc và chống Bắc thuộc
    - Tiếng Việt bị chèn ép do tiếng Hán tràn vào và chính sách đồng hoá của phong kiến phương Bắc.
    - Để tồn tại và phát triển, tiếng Việt đã vay mượn nhiều từ ngữ Hán,
    - >hướng Việt hoá:
    + Đảo vị trí các yếu tố (nhiệt náo - náo nhiệt).
    + Thay đổi nghĩa (phương phi: hoa thơm cỏ lạ -béo tốt).
    + Việt hoá chữ Hán (hồng nhan - má hồng).
    3. Tiếng Việt dưới thời kì độc lập tự chủ
    - Xuất hiện chữ Nôm, tiếng Việt khẳng định ưu thế ngày càng tinh tế, trong sáng, uyển chuyển, phong phú
    4. Tiếng Việt trong thời kì Pháp thuộc
    - Tiếng Việt vẫn bị chèn ép.
    - Nhờ sự thông dụng của chữ quốc ngữ, tiếng Việt ngày càng tỏ rõ tính năng động.
    5. Tiếng Việt từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
    - Trở thành ngôn ngữ quốc gia.
    - Phải bảo vệ sự trong sáng, tính giàu đẹp của tiếng Việt, phải nói viết đúng tiếng Việt, chống lạm dụng từ ngữ nước ngoài.
    II. Chữ viết tiếng Việt
    1. Chữ Nôm
    - Xuất hiện cùng với sự du nhập của chữ Hán.
    - Dùng chữ Hán hoặc bộ phận chữ Hán để ghi tiếng Việt theo nguyên tắc ghi âm tiết trên sơ sở cách đọc chữ Hán của người Việt.
    - Thành quả sáng tạo của người Việt.
    - Nhược điểm: không được chuẩn hoá, muốn đọc chữ Nôm phải thông suốt chữ Hán.
    2. Chữ quốc ngữ
    - Hình thành từ thế kỉ XVIII do các giáo sĩ phương Tây truyền giáo.
    - Đó Là thứ chữ ghi âm tiếng việt dựa vào bộ chữ cái La tinh.
    - Nó có nhiều ưu điểm như đơn giản, sử dụng chữ cái Latinh, cách viết và cách đọc có sự phù hợp khá cao.
    - Lúc đầu nó chỉ sử dụng hạn chế trong các xứ đạo, dần dần được phổ biến.
    - Sau Cách mạng tháng Tám: Tiếng Việt giành được vị trí xứng đáng trong mọi hoạt động của đất nước.

    Sự ưu việt của tiếng Việt khi đứa trẻ học nói đó là: trẻ khi tập nói có thể tự bập bẹ một số từ đơn giản như ; bà , mẹ.
    - Mặc dù chưa biết mặt chữ những trẻ vẫn có thể tự ghép các chữ cái để tạo thành chữ và câu có ý nghĩa.
    - Do tiếng Việt không có thì nên trẻ có thể nói diễn tả được ý nghĩa của câu rõ ràng phù hợp với ngữ cảnh.

    Id 4706375
    Nik nắng ấm quê hương 98
     
    Seo 1976Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  17. quê tôi 102

    quê tôi 102 Dân đen

    Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt và là ngôn ngữ chính thức của Việt Nam. Trong lịch sử Việt Nam đã có ba loại văn tự được dùng để ghi chép tiếng Việt là chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Chữ Hán và chữ Nôm là văn tự ngữ tố, mỗi chữ Hán và chữ Nôm biểu thị một hoặc một số âm tiết. Chữ quốc ngữ đã bắt đầu được sử dụng chính thức tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX.
    Các dạng chữ viết tiếng Việt từng được sử dụng trong lịch sử
    Chữ Hán
    Vai trò của chữ Hán để ghi chép tiếng Việt chủ yếu là ghi lại các yếu tố Hán-Việt có trong văn bản Nôm, ngoài ra, chữ Hán cũng là thành tố quan trọng để tạo ra chữ Nôm.
    Từ đầu công nguyên đến thế kỷ X, Việt Nam chịu sự đô hộ của phong kiến Trung Hoa, chữ Hán và tiếng Hán được giới quan lại cai trị áp đặt sử dụng. Theo Đào Duy Anh thì nước Việt bắt đầu có Hán học khi viên Thái thú Sĩ Nhiếp (137 - 226) đã dạy dân Việt thi thư. Trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán.
    Có ý kiến cho rằng chữ Hán đã hiện diện ở Việt Nam từ trước Công nguyên, dựa trên suy diễn về dấu khắc được coi là chữ trên một con dao găm . Tuy nhiên đó là lúc chữ Hán chưa hình thành, và trên các trống đồng Đông Sơn có thời kỳ 700 TCN - 100 SCN thì hiện diện "các chữ của người Việt cổ" chưa được minh giải, và chưa có tư liệu xác định vào thời kỳ trước Công nguyên cư dân Việt cổ đã sử dụng chữ.
    Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện chính trong việc ghi chép và trước tác. Đến cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 thì bị thay thế bởi chữ Quốc ngữ. Nền khoa bảng Việt Nam dùng chữ Hán chấm dứt ở kỳ thi cuối cùng năm 1919.
    Chữ Nôm
    Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự "ngoại lai" không thể nào đáp ứng, và thậm chí được cho là "bất lực" trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của người Việt, khiến chữ Nôm ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán chưa đáp ứng được.
    Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:
    Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật... xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ 6).
    Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh. Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn Thiền Tông Bản Hạnh. Đến thế kỷ 18 - 19 chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át cả địa vị chữ Hán. Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ.
    Chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa…
    Chữ Quốc ngữ
    Chữ Quốc ngữ là bộ chữ hiện dùng để ghi tiếng Việt dựa trên các bảng chữ cái của nhóm ngôn ngữ Rôman với nền tảng là ký tự Latinh.
    Việc chế tác chữ quốc ngữ Việt Nam là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng Tên người Châu Âu. Trong công việc này có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu). Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ. Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn Từ điển Việt - Bồ Đào Nha - Latinh (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và cuốn Phép giảng tám ngày. Xét về góc độ ngôn ngữ thì cuốn diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp; còn cuốn Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ 17.
    Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt-Bồ-La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt-Bồ-La xuất bản năm 1772, tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống hiện nay.
    Sự kiện đánh dấu vị thế chữ Quốc ngữ là khi người Pháp hoàn thành xâm chiếm Nam Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Ngày 22 tháng 2 năm 1869 Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn ở Nam Kỳ . Nghị định 82 do Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký ngày 06/04/1878 cũng đề ra mốc hẹn trong bốn năm (tức năm 1882) thì phải chuyển hẳn sang chữ Quốc ngữ . Sang thế kỷ 20 thì chính phủ Đông Pháp mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ, giao cho Nha Học chính giảng dạy ở Bắc Kỳ từ năm 1910..
    Việc cổ động cho học "chữ Quốc ngữ" ở toàn cõi nước Việt gắn với các phong trào cải cách trong giai đoạn 1890 - 1910 như Hội Trí Tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành, đã thừa nhận và cổ vũ học "chữ Quốc ngữ", coi là phương tiện thuận lợi cho học hành nâng cao dân trí .
    Theo tư liệu trong "Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ (25/5/1938)" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày 25/5/2008, thì Hội ra đời ngày 25/5/1938, đến ngày 29/7/1938 Thống sứ Bắc Kỳ công nhận sự hợp pháp của Hội. Đó là dấu mốc chắc chắn cho vị thế "chữ Quốc ngữ".
    Tiếng Việt hiện nay có 6 thanh điệu: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng và tương đối khó phát âm đối với những người mà tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ. Ngày nay do sử dụng ký tự Latinh (a, b, c…) của chữ Quốc ngữ, việc giao tiếp ngôn ngữ trên internet trở nên dễ dàng hơn so với các bộ chữ tượng hình như chữ Nôm, chữ Hán…
    Khi trẻ học nói, có thể bỏ qua về luật chính tả và ngữ pháp thì trẻ có thể tự ghép được các câu có nghĩa mặc dù chưa biết về bảng chữ cái.
    Id 4886579
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  18. Tào 1

    Tào 1 Chắn hội Hà Nội

    Câu đố tháng này khó quá, nhà cháu không tham gia, tuy nhiên nhà cháu kính mời các Cụ đọc bài viết này của Giáo sư Nguyễn Lân Dũng đăng trên báo điện tử VNExpress.net.
     
    Mạnh ĐứcNguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  19. BÔ LÃO SÂN ĐÌNH GỬI CÁC BẠN KẾT QUẢ DỰ THI CÂU ĐỐ VUI THÁNG 7/2019.


    I- Nhận xét chung: Thật mừng là còn rất nhiều Chắn Thủ YÊU TIẾNG VIỆT.

    -Tuy vậy, các bạn vẫn chưa “nặng trĩu tình yêu” bằng tiếng nói từ lòng mình. Chủ yếu vẫn là các tìm tòi, trích dẫn trong tài liệu có sẵn.


    II- Ban Tổ Chức xin chọn trao Giải như sau:

    1- Giải Nhất: Để cho Ban Tổ Chức.

    2- Giải Nhì: Xứ Đoài mây trắng.(100M)

    3- Giải Ba: Tửu Thần (50M)

    Các Giải Khuyến Khích: chachavn1; hunglien1992; ken-ars; Giai Ngoan; aaaoooeee; Diêm La Trần Gian; thao96pb; Spider1986; Seo 1976; Thiên Vinh; hungngoduc; 0983193293; quê tôi 102; Tào 1.

    III-Trích đăng lại Đề Thi Tháng 7/2019 dưới đây để các ban dễ theo dõi.

    -Ban Tổ Chức cũng có một Đáp Án Bài Thi để cả nhà tham khảo.

    Hẹn Gặp các bạn với CÂU ĐỐ VUI THÁNG 7.


    NGUYỄN TIỂU THƯƠNG.


    HỘI BÔ LÃO SÂN ĐÌNH GỬI BẠN SÂN ĐÌNH: CÂU ĐỐ VUI 7/2019

    Bạn Dự Thi hãy nêu “Những hiểu biết của bản thân về SỰ VƯỢT TRỘI CỦA TIẾNG VIỆT SO VỚI CÁC NGÔN NGỮ CỦA NHIỀU DÂN TỘC TRÊN TRÁI ĐẤT KHI ĐỨA TRẺ HỌC NÓI, HỌC VIẾT”.

    Yêu cầu của Đề Thi:

    1/ “NHỮNG HIỂU BIẾT CỦA BẢN THÂN”: nêu ít nhất hai ý.

    2/ “SỰ VƯỢT TRỘI CỦA TIẾNG VIỆT KHI ĐỨA TRẺ HỌC NÓI, HỌC VIẾT”: nêu các điểm “vượt trội” theo ý bạn.

    3/ Bài thi đạt giải cao nếu Bạn Dự Thi nêu được nhiều ý chưa xuất hiện quen thuộc trong thông tin đại chúng bằng lời văn của bản thân.

    4/ Bài Dự Thi gửi về Mục ĐỐ VUI CÓ THƯỞNG – HỘI BÔ LÃO SÂN ĐÌNH- SANDINH.COM

    5/ Giải thưởng: 3 Giải Nhất Nhì Ba (150M, 100M, 50M) và vô vàn Giải Khuyến Khích 10M.

    6/ Thời hạn Dự Thi: 1/7/2019 đến hết ngày 31/7/2019.

    -Ngày 2/8/2019, Tào Tháo sẽ đại diện Hội BLSĐ gửi phần quà cuộc thi tới các bạn đoạt Giải

    NGUYỄN TIỂU THƯƠNG



    Đáp Án đề thi tháng 7/2019

    Tiếng Việt là Ngôn Ngữ hiện đại nhất(TRẺ TUỔI), phong phú nhất(NHIỀU DẤU, NHIỀU VẦN), dễ học mà biểu đạt được nhiều nhất(HỌC ÍT BIẾT NHIỀU) trong các thứ tiếng của nhân loại.

    1/ TIẾNG VIỆT là ngôn ngữ trẻ nhất: chữ viết Tiếng Việt khai sinh mới hơn ba thế kỷ; cải tổ, hoàn thiện sử dụng được hơn 100 năm.


    2/ TIẾNG VIỆT phong phú nhất bởi có nhiều DẤU THANH, NHIỀU DẤU MŨ, NHIỀU VẦN GHÉP. Không kể dấu chính tả: “các loại ngoặc, các loại dẩu chấm, dấu phảy…” của hệ chữ La tinh.

    -CHỨNG MINH: Con của tỉ phú Bin Ghết, học 2 chữ cái “M và E”, ghép xuôi được 1 từ “ME”. Anh Tào Tháo, chắn thủ Sân Đình Việt Nam, học 2 chữ cái “M và E”, ghép được 12 chữ có nghĩa: “ME, MÈ, MẺ, MẼ, MẸ, MÉ, MÊ, MỀ, MỂ, MỄ, MỆ, MẾ”. Thật tội cho lũ trẻ phải học Tiếng Anh!

    3/ TIẾNG VIỆT học ít biết nhiều, là công cụ ngôn ngữ ưu thế nhất khi trẻ nhỏ học nói, học viết.

    -CHỨNG MINH: Một người Hoa hiện đại, theo yêu cầu của nền giáo dục Bắc Kinh, chỉ mong đọc thông viết thạo 2000 chữ Hán(đã bao hàm 99% các văn bản phổ thông bằng chữ Hán). Cháu tôi, một nông dân Mỹ Đức Hà Nội, anh chắn thủ Tào Tháo ở Sân Đình, đọc thông viết thạo cả quyển Từ Điển Tiếng Việt, có 12 vạn từ chính và nhiều vạn từ phụ, cộng lại cũng mấy chục vạn chữ. Anh Tháo này chỉ học bảng chữ cái có 3 tháng, còn những người Hoa kia, để đọc viết được 2000 chữ Hán thì phải học cả đời, còn liên tục quên và viết sai.Quá đáng thương cho những bé con phải học chữ Hán!


    4/Tiếng Việt viết sao đọc vậy, đọc sao viết vậy. Đây là đỉnh cao của tri thức ngôn ngữ. Điều này bảo đảm, cứ là “Tiếng Người nói, âm thanh trong tự nhiên” người học Tiếng Việt đều viết được thành chữ và duy nhất chỉ có một cách viết đúng.

    -CHỨNG MINH: nhân loại cứ phát ra âm nào, anh Tào Tháo Sân Đình đều viết ra được thành chữ hết và duy nhất có một cách viết đúng mới hay chứ.


    :):):):x:x:x
     
  20. Hội Bô Lão Sân Đình đã trao giải sự kiện Câu Đố Tháng 7 theo danh sách của Bô lão @Nguyễn Tiểu Thương :

    - Giải Nhất 150m Bảo:


    - Giải Nhì 100m Bảo:
    @Xứ Đoài mây trắng
    - Giải Ba 50m Bảo:
    @Tửu Thần


    Các giải Khuyến khích 10m Bảo:

    @chachavn1
    @hunglien1992
    @ken_ars
    @Giai Ngoan
    @aaaoooeee
    @Diêm La Trần Gian

    @thao96pb
    @Spider1986
    @Seo 1976
    @THIÊN_VINH
    @hungngoduc
    @0983193293
    @quê tôi 102

    @Tào 1


    Các bạn vui lòng kiểm tra giao dịch và báo lại cho BTC nếu chưa nhận được quà. Cảm ơn các bạn đã tham gia Sự kiện Câu Đố Tháng 7, hẹn gặp lại các bạn ở những sự kiện tiếp theo !

    Trân trọng !