ĐỐ VUI CÓ THƯỞNG

Thảo luận trong 'Hội Bô Lão Sân Đình' bắt đầu bởi Nguyễn Tiểu Thương, 13/1/19.

  1. quê tôi bắc giang

    quê tôi bắc giang Lý trưởng

    Chủ tịch Hồ Chí Minh với biển đảo Việt Nam
    Trong sự phát triển của một quốc gia có biển, bên cạnh việc tạo lập không gian sinh tồn, hình thành văn hóa, thiết lập quan hệ giao thương với lân bang, biển đảo còn giữ vai trò xác lập chủ quyền và an ninh quốc phòng trên biển. Nằm bên bờ Tây của biển Đông, với bờ biển dài trên 3.260km trải dài từ Bắc xuống Nam, Việt Nam đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia và vùng lãnh thổ có biển. Trong 64 tỉnh, thành phố của cả nước có đến 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển. Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm trên con đường hàng hải huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Biển Việt Nam có trữ lượng lớn về dầu mỏ khí đốt, nguồn lợi hải sản phong phú và nhiều điều kiện phát triển du lịch. Riêng về quốc phòng - an ninh, biển Đông được ví như cửa ngõ, giữ vai trò là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước, trong đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại biển Đông và mục đích quân sự.
    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm thể hiện sự quan tâm đến biển đảo bởi đây là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam - Tổ quốc mà Người dành trọn cuộc đời để chiến đấu vì độc lập dân tộc và hạnh phúc nhân dân. Dòng sông, mặt biển còn là nơi in dấu lòng yêu nước nồng nàn cùng trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, nơi diễn ra bao chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của cha ông, mà Người từng được học trong sử sách và sau này chính Người cũng nhiều lần nhắc lại cho cán bộ, chiến sĩ cùng nghe. Trong hành trình ra đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh có những năm tháng gắn bó với biển nên Người hiểu rõ về tiềm năng và vị trí của biển. Khi dạy ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, Người thường đưa học trò đến chơi ở bãi biển Ghềnh Ráng. Thời gian làm phụ bếp trên những tàu buôn dài ngày lênh đênh trên đại dương, Người đã được ngắm nhiều cảnh biển cả hùng vĩ. Trên những chiếc tàu chở rượu ngon của Boocđô và Angiêri cho các thuộc địa, trong khi nhiều thủy thủ say rượu suốt thì mỗi ngày anh Ba dậy thật sớm để xem mặt trời mọc. Và trong những đêm trăng, anh hầu như không ngủ, anh đi đi lại lại trên tàu, ngắm trời ngắm bể. Thuyền đậu lại ở Têlêripho vào lúc hoàng hôn. Bể lặng sóng, hòn đảo giống như một cái chụp đèn khổng lồ để trên mặt bể, phía trên lóng lánh, phía dưới xanh xanh… Anh Ba nhắc đi nhắc lại: “Đẹp quá! Hùng vĩ quá” . Năm 1911, theo hải trình của tàu Đô đốc Amiran Latusơ Tơrêvin, Người có dịp đặt chân đến những thương cảng sầm uất, quan trọng như Macxây, Lơ Havơrơ, Đoongkéc, Normandy của Pháp. Năm 1912, làm thuê cho một chiếc tàu của hãng Sácgiơ Rêuyni đi vòng quanh châu Phi, Người đã dừng chân ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anggiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông và tận mắt chứng kiến sự phát triển của ngành công nghiệp từ biển ở nhiều nước. Vì vậy, Người hiểu tầm quan trọng của biển trong việc mang đến nguồn lợi phong phú phát triển kinh tế và biển còn là cửa ngõ đất nước, bảo vệ biển tức là bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.
    Trong lúc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giành độc lập, thống nhất ở miền Nam còn vô vàn khó khăn, với tầm nhìn xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá cao tiềm năng, lợi thế, vai trò quan trọng của biển đảo – một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng đất nước cũng như dành tình cảm yêu thương cho cán bộ, chiến sĩ hải quân và nhân dân miền biển. Nhiều lần Bác về công tác tại các tỉnh có biển Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, thăm vịnh Hạ Long, bãi biển Sầm Sơn, Trà Cổ, các đảo Tuần Châu, Cát Hải, Cát Bà, Cô Tô, Vạn Hoa, thăm vùng đất lấn biển Tiền Hải (Thái Bình)… Bác đến kéo lưới với ngư dân, Bác xuống thu hoạch khoai cùng bà con xã đảo. Đi kiểm tra nhiệm vụ canh giữ biển trời Tổ quốc của hải quân, Người quan tâm tìm hiểu, chia sẻ những thiếu thốn trong sinh hoạt của cán bộ, chiến sĩ. Người tặng ảnh cho các lực lượng vũ trang và nhân dân các đảo Cô Tô, Thanh Lân, Ngọc Vừng, Hòn Rều, tặng máy thu thanh để nghe tin tức cho chiến sĩ đảo Hòn Rồng, Cồn Cỏ… Tự hào về biển đảo Tổ quốc, ngày 22/1/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời anh hùng vũ trụ Liên Xô Ghec-man Ti-tốp đến thăm Hạ Long và giới thiệu về cảnh đẹp ở biển.
    Đối với nhân dân miền biển và các đảo, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành một tình cảm quan tâm đặc biệt vì nhân dân cách xa thủ đô, lại ở nơi đầu sóng ngọn gió, đời sống còn nhiều thiếu thốn: “Thủ đô Hà Nội tuy cách xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết và tiến bộ” . Với vị trí đồng bằng là nhà, biển là cửa, Bác đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo vệ miền biển, tại Hội nghị cải cách miền biển ngày 10/4/1956, Người chỉ rõ: “Một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”, “nếu để nó lọt vào, thì người bị thiệt hại trước là đồng bào miền biển. Nếu mình không lo bảo vệ miền biển, thì đánh cá, làm muối cũng không yên” . Bác nhắc nhở muốn cải cách miền biển tốt phải dựa vào quần chúng: “Động viên, tổ chức, đoàn kết quần chúng. Lấy sức quần chúng mà vượt qua khó khăn” vì theo Người, sự nghiệp cách mạng là của quần chúng, chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người, chứ không phải chỉ bằng thành tích nổi bật của một số cá nhân anh hùng và càng ở nơi hiểm yếu thì việc dựa vào dân càng quan trọng. Người nhấn mạnh yêu cầu đoàn kết “một chiếc thuyền phải có người chèo, phải có người lái. Chỉ có người chèo không có người lái cũng không được. Cho nên người chèo và người lái phải đoàn kết với nhau” . Quan tâm đến việc tổ chức nhân dân cải thiện đời sống, Bác yêu cầu cán bộ bên cạnh nắm vững đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ một cách thiết thực, tránh máy móc, phải hướng dẫn nhân dân làm cá, làm mắm, làm muối. Nói chuyện với công nhân thủy thủ tàu HC.15 cảng Hải Phòng, Bác đề cao vai trò của cảng biển: “Muốn xây dựng một nước xã hội chủ nghĩa phải có công nghiệp hiện đại, giao thông vận tải hiện đại, cảng hiện đại” . Vì vậy, công nhân bến cảng “phải sản xuất để có năng lực bốc dỡ cao, sử dụng hết công suất máy móc. Phải giữ gìn an toàn con người, an toàn bến cảng” .
    Dù bận rất nhiều công việc hệ trọng của đất nước nhưng Bác vẫn luôn dành thời gian khảo sát tình hình thực tế miền biển. Người xuống bãi biển kéo lưới, ra khơi buông câu với ngư dân. Bằng tác phong giản dị, gần gũi, tuyệt đối không phô trương, hình thức, Bác đến với dân như người thân trở về với gia đình. Ngày 5/10/1957, đi thăm nhiều cảnh đẹp của vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Bác neo thuyền câu cá với bà con ngư dân. Thấy một người vì ngâm lâu dưới nước bị lạnh, Bác đã tự mình vào khoang lấy chiếc điếu cày cho người đó hút thuốc để nhanh ấm lại. Đến bữa cơm, Bác tự mình đơm bát cơm đầy và khúc cá to nhất cho người đó. Bác nói: “Hôm nay chú làm nhiều, chú phải ăn nhiều”. Sau chuyến kiểm tra vùng đảo Đông Bắc, sáng ngày 1/4/1959, khoảng thời gian bắt đầu vụ cá Nam – vụ chính trong năm, Bác cùng ngư dân đánh cá trên vùng biển Tuần Châu và căn dặn “biển bạc của ta do nhân dân ta làm chủ”. Sau này, để ghi nhớ tình cảm của Bác, ngày 1/4 được chọn là ngày truyền thống nghề cá Việt Nam. Tháng 7/1960, đến Sầm Sơn (Thanh Hóa), Bác nói chuyện với ngư dân xóm Vinh Sơn, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Xương, quan tâm tìm hiểu tình hình đời sống kinh tế của đồng bào và tới thăm một gia đình ngư dân sống cạnh bãi biển. Như bao chuyến đi cơ sở khác, Bác đến thường không báo trước, tránh trống rong, cờ mở, xe đưa, người đón. Nhà nhiếp ảnh Kim Côn kể lại: “Cải trang như một lão ngư, quần cộc, áo nâu cộc, đội mũ không có chóp và quấn chiếc khăn bông quanh cổ để che bớt chòm râu, Bác cùng đoàn công tác vào thăm một xóm chài. Thấy nhà nào cũng đóng cửa, Bác đi một đoạn rồi rẽ vào một gia đình có cụ già đang ngồi. Bác chào cụ, thấy cụ chủ nhà có vẻ cởi mở, Bác hỏi: “Thưa cụ, đời sống dân xóm chài dạo này ra sao ạ?”. Không ngần ngại ông cụ trả lời: “Nhờ ơn Đảng và Chính phủ dân chài chúng tôi no ấm và hạnh phúc lắm ạ!”. Bác dẫn đoàn dẫn xuống tận bãi cá. Thấy mấy lão ngư đang choãi chân thang kéo lưới, Bác liền xắn tay làm cùng. Bác kéo lưới rất thành thục, say sưa không khác gì một lão ngư thực thụ. Mải làm, mình đẫm mồ hôi, Bác cởi áo, rồi bỏ cả khăn mặt quấn cổ. Kéo lưới xong, Bác lại đến nhặt cá cùng ngư dân và vui vẻ nói chuyện với họ” (8).
    Từ năm 1957-1965, nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm các tỉnh ven biển, thăm vịnh và kiểm tra các đảo. Trong những nơi từng ghi dấu hơi ấm tình thương của Người, Cô Tô, đảo nằm giữa trùng khơi của Quảng Ninh, còn lưu giữ được nhiều tài liệu hiện vật đáng nhớ. Đây là nơi duy nhất được Bác đồng ý cho phép dựng tượng khi Người còn sống. Ngày 9/5/1961, thăm Cô Tô giữa lúc đồng bào đang tích cực chuẩn bị cho vụ cá sắp tới và hăng hái làm thủy lợi chuẩn bị cho vụ mùa, nói chuyện với hơn 2.000 đồng bào, cán bộ, bộ đội trên khu đồi sim đang mùa hoa nở, Người dặn dò mọi người trên đảo những công việc cụ thể cần làm tốt để các đảo thiết thực góp phần vào sự nghiệp chung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Bác dặn đẩy mạnh nghề đánh cá, làm muối, nuôi dưỡng, bảo vệ hải sâm, trân châu; chú ý cải tiến kỹ thuật và trồng dâu nuôi tằm để có lưới tốt. Người còn dành thời gian đi thăm cánh đồng muối, xem bới khoai và dừng lại trò chuyện cùng bà con. Ngày 12/6/1969, Bác lại gửi ảnh tặng đồng bào và lực lượng vũ trang trên đảo với dòng chữ “Chào thân ái và quyết thắng” do chính tay Người viết. Để lưu giữ mãi hình ảnh Bác đến Cô Tô, nhân dân và bộ đội trên đảo xin phép được dựng tượng của Người. Đầu năm 1968, tượng đài Bác được nhà điêu khắc Nguyễn Văn Quế cùng các đồng nghiệp bắt tay vào thực hiện. Công trình được khánh thành ngày 22/5/1968, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 78 của Người. Có lẽ việc Bác đồng ý xây tượng mình trên đảo là sự khẳng định về chủ quyền trên vùng biển Tổ quốc? Sau này, trong hệ thống tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tượng đài Bác trên đảo Cô Tô vẫn giữ một vị trí rất đặc biệt. Tượng Bác uy nghiêm hướng ra biển Đông đứng giữa bốn bề sóng nước mênh mông không chỉ được định lượng bằng chiều cao, bề rộng của những con số mà còn được cảm nhận bằng tình yêu Tổ quốc và lòng tự hào dân tộc.
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  2. quê tôi bắc giang

    quê tôi bắc giang Lý trưởng

    Đối với hải quân nhân dân Việt Nam canh giữ biển trời Tổ quốc giữa trùng khơi sóng gió, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm, giáo dục tuy nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, thấm thía để rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trưởng thành cả trong công tác lẫn đời sống. Người cũng luôn chú ý theo dõi và kịp thời động viên, biểu dương tinh thần chiến đấu cùng những chiến công của lực lượng. Ngày 5/10/1957, trong chuyến thăm vịnh Hạ Long và hang Đầu Gỗ (Quảng Ninh), Bác đã nói chuyện với đoàn cán bộ đi cùng về truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông trong lịch sử và trách nhiệm giữ gìn cảnh đẹp thiên nhiên. Xác định biển đảo cũng như những miền biên ải trọng yếu khác cần chắc tay súng bảo vệ, Người dành thời gian đến với lực lượng hải quân và kiểm tra vùng đảo Đông Bắc Tổ quốc. Trong chuyến thăm, Người yêu cầu chiến sĩ hải quân phải giữ nghiêm kỷ luật quân đội, nâng cao tinh thần cảnh giác. Về đời sống, Người nhắc tận dụng tiềm năng dồi dào sẵn có của biển và chú ý tăng gia sản xuất cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Đồng chí Nguyễn Thế Trinh, khi ấy là Hiệu trưởng trường Huấn luyện Hải quân kể: “Giữa tháng 3/1959, tôi được triệu tập lên Bộ Tổng Tham mưu để nhận một nhiệm vụ đặc biệt: chuẩn bị kế hoạch đưa Bác Hồ đi thăm biển, đảo tại Hải Phòng và Quảng Ninh. Đúng 8 giờ sáng ngày 30/3, đoàn xe của Bác dừng tại cổng trường. Bác đội mũ cát trắng, chân đi dép cao su giản dị. Bác vẫy tôi lại gần, nhẹ nhàng: “Đi công tác với Bác lần này, Bác miễn cho các chú mọi thủ tục và nghi lễ chính quy nhé!”. Bác xuống tàu đi thăm và kiểm tra một số đơn vị trên vùng biển Hạ Long. Ở mỗi nơi đến thăm, Người luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Anh em căng bạt che mái, kê bàn ghế để Bác và các đồng chí trong đoàn ngồi nghỉ. Bác không ngồi mà đi hết mũi, xuống lái tàu rồi lại vòng lên mui. Thăm nơi ở, bếp ăn, Bác nhắc nhở: “Nuôi quân là quan trọng lắm, quân có khỏe thì mới học tập được”. Khi tàu vào vịnh Hạ Long, ngay đảo Tuần Châu, Bác nhắc đồng chí Vũ Kỳ để đồng chí Tổng công trình sư lên đảo, chuẩn bị mọi mặt để khi Bác lên đảo sẽ nghe báo cáo thiết kế xây dựng khu nhà nghỉ của Quốc hội ở đây. Gần trưa anh em múc chậu nước ngọt mời Bác rửa tay, Bác hỏi: “Dưới tàu các chú mỗi người dùng bao nhiêu lít nước ngọt một ngày?”, “Thưa Bác, mỗi người chúng cháu dùng 50 lít một ngày. Nhưng đi công tác với Bác, chúng cháu chuẩn bị nhiều nước ngọt nên dùng thoải mái ạ” - anh em thưa. Bác bảo: “Khi đã xuống tàu phải chấp hành mọi quy định của tàu, ai cũng phải thế. Nếu các chú bảo nhiều nước dùng thoải mái, ít nước dùng ít thì còn gì là quy định nữa”. Bác nói thêm: “Nước ngọt trên tàu khi đi biển là rất quý. Để bảo đảm đủ nước sinh hoạt phải có quy định. Đến tối rửa một thể”. Cuối cùng Bác không rửa, kể cả khi lội xuống nước vào đảo và từ đảo lên tàu Bác cũng không rửa nước ngọt. Buổi trưa, Người cho tàu neo tại chân đảo Hòn Rều và lên bờ nghỉ. Người xẻ cơm nếp, thịt rang mang từ Hà Nội xuống cho các đồng chí làm nhiệm vụ dưới tàu. Sau khi đến Cửa Ông – Cẩm Phả, đi thăm và nói chuyện với cán bộ, công nhân mỏ Đèo Nai, xuống tàu trở về bến cảng Hòn Gai, Người hỏi: “Có đi tiếp đảo Tuần Châu được không?”. Được báo cáo nếu đi Tuần Châu thì sẽ phải ăn tối muộn, Người nói: “Thế thì ta ăn tối trên tàu”. Chiều tối, Người nói chuyện với cán bộ, nhân dân đảo Tuần Châu và ghé thăm hai gia đình trên đảo. Sau khi thăm đảo, Bác trở về tàu 524, cán bộ, chiến sĩ trên tàu mời Bác ở lại ăn cơm. Bác vui vẻ nhận lời: “Để Bác xem các chú nấu ăn có giỏi không?”. Bác xuống bếp, nhìn quanh một lượt, khen bếp sạch, ngăn nắp. Bác đang xem ngăn để gia vị, hành tỏi, chợt quay lại bảo: “Chú nấu cơm khê rồi”. Trong lúc mọi người chưa biết xử lý thế nào thì Bác bảo: “Chắc các chú đói rồi, cơm hơi khê, không việc gì, ta ăn thôi”. Lúc đang ăn, Bác gọi đồng chí phục vụ mang lên đĩa cá rô phi rán. Nhìn đĩa cá, Bác bảo: “Ở giữa biển, Bác mời các chú ăn cá”. Cá là của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh biếu. Bác muốn nhắc nhở sống ở khu vực có biển phải biết giăng lưới, thả câu, bắt cá để cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Khi sẻ cơm cho từng người, Bác bảo: “Các chú ăn cơm với Bác hoặc ăn cơm phải ăn hết thức ăn, không được để thừa, thừa đổ đi thì lãng phí, để người khác ăn thừa mình thì không được”. Tàu cập cảng Bãi Cháy. Buổi tối, Bác gặp và nói chuyện với cán bộ Khu ủy Hồng Quảng. Sau đó, Người cho xe ô tô đón cán bộ, chiến sĩ trên tàu 524 lên thăm hỏi. Rót nước và chia kẹo cho từng cán bộ, chiến sĩ, Người nhắc nhở các thủy thủ phải yêu biển, đã có tàu phải chịu khó học tập kỹ thuật để sử dụng tàu cho tốt, chiến đấu cho giỏi. Ngày 31/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm tàu hải quân 254 tại quân cảng Bãi Cháy và trận địa pháo của Đại đội 34 trên đảo Hòn Rồng làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển Hạ Long. Trên đường đi, Bác tranh thủ nghe báo cáo về tình hình ở đảo Hòn Rồng: ta đã tổ chức được một đảo quan sát nhưng đời sống vật chất, tinh thần của anh em còn thiếu thốn. Tàu cập gần chân đảo, xuồng đi theo một cái lạch nhỏ, lúc vướng đá phải lội xuống đẩy. Thấy anh em cầm sào đẩy xuồng còn lúng túng, Bác chỉ cách dùng sào, cuộn dây mồi sao cho đẹp, cho chặt mới ném đi được xa và cả những động tác của người thủy thủ khi tàu rời bến, cập bến. Xuồng cập bờ, thăm nơi ở, làm việc, Bác hỏi đảo có nước ngọt không? Một đồng chí thưa: Thưa Bác, ở đây nước ngọt khó khăn phải chở từ đất liền ra, bể chứa lại nhỏ. Bác giao nhiệm vụ cho đồng chí Bí thư khu ủy Hồng Quảng: “Chính quyền địa phương phải giúp các chú ấy xây thêm một bể chứa nước nhé” và hỏi tiếp luôn “bao giờ làm xong?”. Người bảo đồng chí cán bộ Tổng cục Hậu cần đi theo nghiên cứu, đảm bảo mỗi tuần anh em có thể tắm hai lần bằng nước ngọt và hứa gửi tặng cán bộ chiến sĩ trên đảo một chiếc máy thu thanh. (Hơn một tuần, sau khi Bác về tới Hà Nội, đài đã đến tay anh em trên đảo). Kiểm tra nơi ăn chốn ở trên đảo xong, Bác quay về sân doanh trại nói chuyện với đơn vị và căn dặn cán bộ, chiến sĩ cố gắng khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, tích cực học tập chính trị, quân sự, văn hóa. Trong xây dựng lực lượng, Người nhấn mạnh: “Các chú phải nhớ xây dựng hải quân của nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam chứ không phải hải quân của thế giới”, “các chú ở đây khó khăn, xa gia đình, phải cố gắng khắc phục khó khăn. Ở đây mát, nhưng không phải nghỉ mát mà làm nhiệm vụ”. Khi đó khí tài quan sát còn thô sơ, Bác bảo sau này sẽ trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, tầm nhìn sẽ xa hơn. Lúc nhận trứng, bí của đơn vị tặng, Người nói: “Bác rất quý quà này, vì các chú tự làm ra”. Rời đảo Hòn Rồng đến thăm đảo chính, nơi có trận địa pháo của Trung đoàn 244 phòng thủ từ Cửa Vạn vào vịnh Hạ Long, Bác yêu cầu cần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu: “Có khi 24 giờ sẵn sàng, nhưng chỉ còn mấy phút lơ là thì 24 giờ sẵn sàng ấy cũng mất giá trị”. Tới hội trường hợp tác xã đánh cá mới thành lập trên đảo Cát Hải, Bác thăm hỏi sức khỏe, tình hình sản xuất, đời sống nhân dân và dặn đồng bào phối hợp với bộ đội hải quân cảnh giác bảo vệ vùng biển đảo. Rời Cát Hải, Bác đến đảo Cát Bà. Kết thúc chuyến kiểm tra một số đảo vùng Đông Bắc, Người thăm trường huấn luyện hải quân và căn dặn: “Nhà trường là nơi đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật cung cấp cho cả Quân chủng Hải quân non trẻ. Bây giờ còn ít, sau này sẽ nhiều. Có cán bộ và nhân viên kỹ thuật tốt, thì mới có hải quân tốt được. Nhà trường ngoài việc đào tạo ra còn phải nghiên cứu khoa học kỹ thuật mang màu sắc của Hải quân Việt Nam. Thủy quân của ông cha ta trước đây có một lịch sử, truyền thống oanh liệt lắm. Các chú phải học tập phấn đấu không ngừng để bản thân tiến bộ và xây dựng Hải quân mau chóng trưởng thành”. Cuối cùng Bác nói: “Trong chuyến đi công tác, các chú đã tạo điều kiện cho Bác công tác tốt. Bác cảm ơn”. Nhận bông hoa đá các học viên tặng, Bác nói: “Hoa đá đẹp mà không ăn được. Giá các chú biếu Bác quả bầu, quả bí trồng được để Bác mang về nấu canh, rồi mời các đồng chí trong Trung ương cùng ăn thì Bác càng vui hơn”.
    Sau chuyến kiểm tra vùng đảo Đông Bắc này, ngày 16/3/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại thăm Hải Phòng, vịnh Hạ Long và một đơn vị hải quân Việt Nam. Nghe báo cáo về sự phát triển các đơn vị tàu chiến đấu, Bác khen ngợi: “Các chú có nhiều cố gắng thế là tốt. Hiện nay tàu bè, vũ khí của ta chưa nhiều, phải từng bước, từng bước xây dựng. Trước mắt giữ gìn những gì đã có để có thể đánh địch khi cần thiết” và dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó. Bờ biển ta có vị trí rất quan trọng. Vì vậy nhiệm vụ của hải quân trước mắt cũng như lâu dài rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Phải biết tìm ra cách đánh phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển nước ta và vũ khí trang bị mình có”. Lúc thuyền đưa Bác vào thăm hang Đầu Gỗ - nơi xưa kia Trần Hưng Đạo đóng cọc gỗ cắm trên sông Bạch Đằng chống quân Nguyên - Mông xâm lược, Bác nói: “Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng không được quên truyền thống đánh giặc xa xưa kia của tổ tiên…”. Trong chuyến thăm đảo Tuần Châu, Ngọc Vừng và quân cảng Vạn Hoa (Quảng Ninh) ngày 13/11/1962, đứng trên đảo nhìn sang phía Cửa Mô trước mặt, Bác kể cho cán bộ, chiến sĩ hải quân nghe về danh tướng Trần Khánh Dư thời Trần dùng mưu đánh chiếm đoàn thuyền tiếp lương của quân Nguyên sang xâm lược nước ta. Người nhắc nhở “phải yêu quý đảo như yêu quý nhà mình, chịu khó cải tạo xây dựng thành những mảnh đất vừa giàu, vừa đẹp có lợi cho mình lại có lợi cho đất nước”. Lần cuối cùng thăm Quảng Ninh, ngày 2/2/1965, ở Bãi Cháy, Bác nói với các đồng chí cùng đi: “Chúng ta cố gắng xây dựng thêm ở đây. Sức của và sức người của chúng ta còn nhiều”. Trong những ngày đế quốc Mỹ điên cuồng ném bom phá hoại, khi biết tin cán bộ, chiến sĩ đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị) chiến đấu dũng cảm, mưu trí bắn rơi máy bay Mỹ, Người gửi thư khen: “Cồn Cỏ xứng đáng là đảo nhỏ anh hùng” và tặng hai câu thơ “Cồn Cỏ nở đầy hoa thắng trận/ Đánh cho tan xác giặc Hoa Kỳ”. Kỷ niệm lần thứ 10 ngày thành lập Quân chủng, ngày 5/8/1965, Bác gửi thư cho cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Hải quân khen ngợi thành tích trong chiến đấu và xây dựng của lực lượng: “Tuy còn non trẻ, nhưng nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự tin yêu, giúp đỡ của nhân dân, sự cố gắng không ngừng của mình, hải quân ta đã anh dũng chiến đấu, tích cực diệt địch, bắn rơi máy bay và đánh đuổi tàu chiến Mỹ, đoàn kết lập công, bảo vệ nhân dân, bảo vệ vùng trời và vùng biển của Tổ quốc. Các chú đã nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc ta”.
    Trong tình hình hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về biển đảo vẫn mang tính thời đại sâu sắc. Lời Bác dặn “nơi hiểm yếu không chỉ cần súng lớn mà còn cần phải có lòng trung với Đảng, hiếu với dân” như lời nhắc nhở về ý chí giữ gìn từng tấc đất, tấc biển quê hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà hoạt động cách mạng lấy hành vi và chính sự gương mẫu để truyền đạt những tư tưởng thâm sâu của mình và tạo nên niềm tin tập hợp mọi người vào một mục đích chung nên Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề lời nói đi đôi với việc làm, lý luận gắn với thực tiễn. Những chuyến đi về biển đảo cũng như sự quan tâm đến nhân dân bằng phong cách quần chúng gần gũi của Người để lại bài học sâu sắc cho cán bộ, chiến sĩ hải đảo học tập, làm theo trong thực thi nhiệm vụ canh giữ, bảo vệ chủ quyền Tổ quốc và giúp nhân dân vững vàng trước sóng gió, ổn định và xây dựng đời sống. Để thực hiện những lời căn dặn sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo vệ chủ quyền biển đảo và khai thác nguồn lợi từ biển, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm “đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển, giàu lên từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển đảo” như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) khẳng định.
    Từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, trên biển Đông luôn tồn tại những tranh chấp biển đảo quyết liệt và phức tạp, tiềm ẩn nhân tố mất ổn định, tác động đến quốc phòng và an ninh. Do vị trí địa - chính trị Việt Nam liền kề với nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc nên dân tộc Việt Nam hiểu rõ hơn ai hết về hiểm họa tiềm tàng chưa bao giờ dứt này, nhất là từ khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD 981 trên vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của nước ta thì vấn đề chủ quyền biển đảo, chủ quyền quốc gia càng trở thành mối quan tâm hơn bao giờ hết. Khi trả lời câu hỏi của nhà báo Pháp Danielle Hunebel, cơ quan phát thanh – truyền hình Pháp ORTF: “Có một vài ý kiến cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở hoàn cảnh khá cô lập và nói một cách chính trị, khó có thể tránh khỏi trở thành một thứ vệ tinh của Trung Quốc. Ông có thể nói gì về việc này?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không một giây do dự, dằn giọng trả lời “Không bao giờ”! Người đã diễn đạt một cách cô đọng và thấm thía nhất lời nguyền của cha ông ta từ thuở “Các vua Hùng đã có công dựng nước” và nay các thế hệ Việt Nam phải biết cách “giữ lấy nước”. Đó cũng là ý chí không gì lay chuyển nổi của cả dân tộc trong cuộc đấu tranh giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền biển đảo quốc gia, quyết tâm chống lại hành vi của kẻ xâm lược láng giềng, giữ yên vùng biển, vùng trời Tổ quốc: “Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát/ Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời/ Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất/ Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi”
    Id 4475570
    Nik quê tôi Bắc giang
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  3. Mối quan hệ của Biển Đông với nền kinh tế Việt nam
    Phát triển kinh tế biển bền vững: Tiềm năng, thách thức và định hướng
    Khai thác tiềm năng biển, đảo là vấn đề quan trọng mang tính chiến lược ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia có biển và không có biển. Trong điều kiện các nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt, các nước ngày càng quan tâm tới biển. Việc phát triển kinh tế biển trở thành xu thế tất yếu trên con đường tìm kiếm và đảm bảo các nhu cầu về nguyên, nhiên liệu, năng lượng, thực phẩm cũng như không gian sinh tồn cho loài người trong tương lai. Nhìn lại bức tranh kinh tế biển Việt Nam trong thời gian qua, tuy có những thành tựu đáng kể nhưng vẫn ẩn chứa nhiều nguy cơ, thách thức. Việc phát triển kinh tế biển ở một số nơi, một số khu vực đã có những sự việc ảnh hưởng nhất định đến môi trường, kinh tế – xã hội… các địa phương và vùng miền. Vì vậy, yêu cầu về việc phát triển kinh tế biển một cách hài hòa, bền vững đã và đang được đặt ra một cách cấp bách.


    Vùng biển nước ta thuộc Biển Đông, nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch giao thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực; ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển. Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi 8 nước khác là Trung Quốc, Philipines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia. Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của hàng trăm triệu dân thuộc những quốc gia này.

    Vùng biển Việt Nam có diện tích rộng, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền, đường bờ biển dài trên 3.260 km (đứng thứ 27 về chiều dài bờ biển trong số 157 quốc gia ven biển, đảo quốc trên thế giới) và tỷ lệ mặt tiền hướng biển gấp 6 lần thế giới. Nước ta có lợi thế rất lớn trong phát triển kinh tế biển và giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó Biển Đông đóng vai trò “cầu nối” quan trọng, là cửa mở với các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. So với các vùng khác trong nội địa, vùng ven biển gồm hầu hết các đô thị lớn có kết cấu hạ tầng khá tốt; có các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước đang được đầu tư phát triển mạnh; có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, trong đó một số loại có giá trị làm mũi nhọn để phát triển; có nguồn lao động dồi dào và hệ thống giao thông sắt, thủy, bộ thuận tiện… là điều kiện hết sức thuận lợi để tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tiếp thu công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài, từ đó lan tỏa ra các vùng khác trong nội địa.

    Tiềm năng nổi bật của kinh tế biển Việt Nam là nguồn tài nguyên dầu khí, trữ lượng ước tính khoảng 3,0-4,5 tỷ m3 quy dầu quy đổi, chủ yếu là khí (chiếm trên 50%) và tập trung chủ yếu ở thềm lục địa. Trữ lượng tài nguyên dầu khí đã phát hiện vào khoảng 1,365 tỷ m3 quy dầu, chiếm 30-35% tổng trữ lượng và tiềm năng dầu khí dự báo của Việt Nam, trong đó khí thiên nhiên chiếm trên một nửa. Các mỏ phát hiện dầu khí phân bố chủ yếu ở bốn bể là Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay – Thổ Chu; các bể còn lại là bể Tư Chính Vũng Mây và cụm bể Trường Sa và cụm bể Hoàng Sa chưa đủ số liệu để xác định chính xác diện tích bể cũng như các điểm khai thác. Trong số các mỏ đã phát hiện, mỏ Bạch Hổ ở bể Cửu Long được coi là lớn nhất với trữ lượng khoảng 340 triệu m3 quy dầu, tương đương khoảng 2,1 tỷ thùng, đóng góp vào 80% trữ lượng dầu khai thác hàng năm của Việt Nam.

    Không chỉ sở hữu trữ lượng dầu phong phú, Việt Nam còn có tiềm năng lớn về giao thông thủy. Vùng ven bờ nước ta có tổng số 48 vũng vịnh với tổng diện tích khoảng 4.000 km2, phân bố từ Bắc vào Nam, trong đó vùng Nam Trung Bộ có nhiều nhất (31 vũng, vịnh), chiếm 64,6% tổng số vũng vịnh cả nước, tiếp đến là vùng Bắc Bộ (7 vũng vịnh), chiếm 14,6%, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ cùng có 5 vũng vịnh, chiếm 10,4%, còn vùng biển Nam Bộ không có vũng vịnh. Nhiều vũng vịnh tương đối sâu và kín, thuận lợi cho việc xây dựng các cảng nước sâu và cho việc trú ngụ của tàu thuyền.

    Về nguồn lợi hải sản, Việt Nam có mặt trong danh sách 10 trung tâm đa dạng sinh học biển và danh sách 20 vùng biển có lợi ích kinh tế lớn nhất toàn cầu do hải sản đem lại. Đến nay ở vùng biển Việt Nam đã phát hiện được chừng 12.000 loài sinh vật với trên 2.000 loài cá, trong đó khoảng 130 loài cá có giá trị kinh tế; trữ lượng cá biển của toàn vùng khoảng 4,2 triệu tấn; sản lượng cho phép khai thác chừng 1,7 triệu tấn/năm, bao gồm 850 nghìn tấn cá đáy, 700 nghìn tấn cá nổi nhỏ, 120 nghìn tấn cá nổi đại dương. Bên cạnh đó, biển Việt Nam còn nhiều nguồn lợi hải sản khác với khoảng 1.600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50-60 nghìn tấn/năm, trong đó hải sản có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm, tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có các loài có giá trị kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác 60-70 nghìn tấn/năm)…

    Về du lịch và kinh tế hải đảo, với bờ biển dài 3260 km cùng hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ và hàng trăm bãi tắm cát trắng trải dài từ Bắc vào Nam, Việt Nam có điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển du lịch biển, đảo, trong đó có những bãi, biển, vịnh đẹp nổi tiếng thế giới như Hạ Long, Nha Trang, Đà Nẵng được Tạp chí Forbes bầu chọn là một trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh… Ngoài ra, còn nhiều khu vực biển có tiềm năng lớn đã và đang được đầu tư như: vịnh Hạ Long – Hải Phòng – Cát Bà; Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam; Vân Phong – Đại Lãnh – Nha Trang; Vũng Tàu – Long Hải – Côn Đảo; Phan Thiết – Mũi Né; Hà Tiên – Phú Quốc. Đặc biệt, Việt Nam sở hữu nhiều khu vực ven biển có rừng ngập mặn (rừng ngập mặn Cà Mau, rừng ngập mặn cần Giờ…) cùng nhiều làng nghề, lễ hội độc đáo nên tạo điều kiện rất tốt cho phát triển du lịch.

    Ngoài những tiềm năng về tài nguyên – môi trường, biển Việt Nam còn có khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 2.773 đảo ven bờ với tổng diện tích tự nhiên khoảng 1.720 km2, 02 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa, Trường Sa (gồm hơn 200 đảo) và các đối tượng địa lý (187 đảo). Trong số 3.000 hòn đảo chỉ có 03 đảo rộng trên 100 km2 là Phú Quốc (558 km2), Cái Bầu (194 km2) và Cát Bà (160 km2); còn lại là các đảo nhỏ. Các đảo phân bố từ phía Tây vịnh Bắc Bộ đến phía Đông vịnh Thái Lan nhưng chủ yếu tập trung ở hai vùng biển Đông Bắc và Tây Nam. Trong đó, các tỉnh, thành phố có nhiều đảo nhất là Quảng Ninh (2.078 đảo, chiếm khoảng 75% tổng số đảo ven bờ Việt Nam), thành phố Hải Phòng (243 đảo, chiếm 8,8%), Kiên Giang (157 đảo, chiếm 5,7%) và Khánh Hòa (103 đảo, chiếm 3,7%)… Hệ thống đảo Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội cả nước nói chung và phát triển kinh tế biển nói riêng. Với vị trí phân bố đặc thù, hệ thống đảo có lợi thế rất lớn về phát triển kinh tế biển, đảo. Đây được coi là ưu thế nổi bật, đặc thù của hệ thống đảo mà các vùng khác không có.
    Thách thức không nhỏ
    Đi cùng với tiềm năng, cơ hội phát triển, lĩnh vực phát triển kinh tế biển cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức như: ô nhiễm vùng bờ, phát triển nóng không gian biển, quy hoạch tổng thể.

    Ô nhiễm khu vực biển ven bờ

    Hiện có từ 70% đến 80% lượng rác thải trên biển có nguồn gốc từ nội địa khi các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu dân cư xả nước thải, chất thải rắn không qua xử lý ra các con sông ở vùng đồng bằng ven biển hoặc xả thẳng ra biển. Đơn cử, chỉ riêng trong quá trình nuôi trồng thủy sản cũng làm phát sinh đáng kể lượng chất thải rắn trực tiếp ra biển, nguồn thải chủ yếu là các loại phân bón, thức ăn nhân tạo sử dụng trong nuôi trồng. Bình quân một ha nuôi tôm sẽ thải ra môi trường khoảng 5 tấn chất thải rắn và hàng chục nghìn m3 nước thải trong một vụ nuôi. Với tổng diện tích nuôi tôm hơn 600 nghìn ha, mỗi năm sẽ thải ra môi trường gần 3 triệu tấn chất thải rắn. Cụ thể: Tại các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Bình, trên 37.000 ha đã được khai thác đưa vào nuôi trồng thủy sản (chiếm 30-35% diện tích nước mặn lợ). Phần lớn cơ sở đã đi vào nuôi trên quy mô công nghiệp dẫn tới các nơi cư trú sinh vật, bãi đẻ, bãi giống bị hủy diệt, dịch bệnh xuất hiện tràn lan…
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  4. Một nguyên nhân gây ô nhiễm biển nữa là tràn dầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn đã làm gia tăng rất mạnh lượng tiêu thụ xăng dầu. Lợi ích kinh tế dẫn đến tình trạng khai thác dầu quá mức. Trong khi đó, lượng dầu rất lớn bị rò rỉ ra môi trường biển do hoạt động của các tàu và do các sự cố hư hỏng hay đắm tàu trở dầu, do sự cố tại lỗ khoan thăm dò và dàn khoan khai thác dầu. Đáng chú ý là các vụ tràn dầu nghiêm trọng những năm gần đây có xu hướng gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường biển, đặc biệt là vùng nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó, vùng biển nước ta có hàng trăm giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí, ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn, trung bình mỗi năm hoạt động này còn phát sinh 5.600 tấn rác thải dầu khí, trong đó có 20% đến 30% là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãi chứa và nơi xử lý. Đó là chưa kể tình trạng ô nhiễm dầu do khai thác và vận chuyển dầu khí trên biển không ngừng gia tăng.

    Hàng năm, trên 100 con sông ở nước ta thải ra biển 880 km3 nước và 270-300 triệu tấn phù sa, kéo theo nhiều chất có thể gây ô nhiễm biển như các chất hữu cơ, dinh dưỡng, kim loại nặng và nhiều chất độc hại từ các khu dân cư tập trung, các khu công nghiệp và đô thị, các khu nuôi trồng thủy sản ven biển và các vùng sản xuất nông nghiệp. Năm 2010, lượng chất thải đã gia tăng rất lớn ở các vùng nước ven bờ, trong đó dầu khoảng 35.160 tấn/ngày, nitơ tổng số 26-52 tấn/ngày và tổng amoni 15-30 tấn/ngày. Báo cáo hiện trạng môi trường đã chỉ ra rằng chất lượng môi trường biển và vùng ven biển tiếp tục bị suy giảm. Nước biển của một số khu vực có biểu hiện bị axit hóa do độ pH trong nước biển tầng mặt biến đổi. Nước biển ven bờ có biểu hiện bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ, kẽm, một số chủng thuốc bảo vệ thực vật. Hiện tượng thủy triều đỏ xuất hiện tại vùng biển Nam Trung bộ, đặc biệt tại Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận làm chết các loại tôm cá đang nuôi trồng tại vùng này. Chất lượng môi trường biển thay đổi dẫn đến nơi cư trú tự nhiên của loài bị phá hủy, gây tổn thất lớn về đa dạng vùng bờ. Khoảng 85 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 70 loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam.

    Phát triển nóng các không gian biển

    Cùng với sự phát triển kinh tế, các mảnh đất sát biển được coi là mảnh đất vàng. Các hoạt động ở khu vực này vô cùng sôi động, đi dọc ven biển nhiều khu công nghiệp hiện đại gắn liền với các cảng biển nước sâu, các khu resort, sân gofl, nghỉ dưỡng phục vụ du lịch đã phần nào thay đổi bộ mặt các khu vực ven biển. Các khu vực trước kia là các làng chài nghèo ven biển, đồi cát hoang vu nay được thay đổi mới. Những điều này đã phần nào mang lại đời sống mới cho bộ phận các cư dân ven biển. Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển đó là nhiều bất cập. Đầu tiên là các công trình này làm giảm quyền được tiếp cận của người dân tới biển khi các công trình ven biển hiện nay phần lớn phục vụ cho mục đích du lịch, phát triển công nghiệp… Trong khi đó, một trong những nguyên tắc được công nhận đó là tài nguyên biển là tài nguyên chia sẻ, việc độc chiếm không gian ven biển của các khu công nghiệp, khu resort, sân gofl… làm nảy sinh nhiều khó khăn cho người dân khi muốn ra biển. Nhiều khu vực, người dân phải đi xa hàng chục km mới có thể ra biển.
    Thứ hai, việc phát triển ồ ạt các khu vực ven biển sẽ tác động đến môi trường, ảnh hưởng trước tiên là làm chết các sinh vật đáy, mất đi môi trường sinh sống, đẻ trứng của các loài thủy sinh, ngoài ra còn ảnh hưởng đến dòng chảy dẫn đến sạt lở ở các vùng xung quanh. Vùng ven biển luôn tồn tại dòng hải lưu ven bờ, khi địa hình một khu vực bờ biển nào đó bị thay đổi, nhô ra do việc lấn biển khiến các dòng hải lưu thay đổi, hệ quả là gây bồi tụ hoặc xói lở ở các vùng biển xung quanh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động hàng hải và các công trình, bãi biển khu vực đó.

    Thêm nữa, việc phát triển nóng các không gian ven biển còn tạo ra trầm tích lơ lửng trong nước. Sự xuất hiện các trầm tích này phát tán ra các khu vực biển xung quanh làm cho độ đục nước biển khu vực đó tăng lên, các sinh vật phù du không có ánh sáng mặt trời quang hợp dẫn đến chuỗi thức ăn bị thay đổi, xáo trộn thậm chí còn biến mất. Sự gia tăng các trầm tích trong nước cũng làm một số hệ sinh thái như rừng ngập mặn, cỏ biển bị chết. Việc mất đi các hệ sinh thái trên làm giảm khả năng giữ lại trầm tích, lại làm cho các hạt này phát tán xa hơn, có trường hợp đã gây ảnh hưởng đến rạn san hô cách đó hàng chục km.


    Các quy hoạch khai thác sử dụng biển đã xây dựng trước đây đều là quy hoạch ngành. Do đặc điểm quản lý khai thác biển của chúng ta trước kia là quản lý biển theo ngành, mỗi Bộ được giao quản lý một ngành, vì vậy, mỗi Bộ xây dựng cho mình một quy hoạch riêng, trình Chính phủ phê duyệt và trên cơ sở quy hoạch được phê duyệt, các Bộ xây dựng kế hoạch cho việc khai thác sử dụng biển. Do có nhiều Bộ cùng tham gia quản lý biển theo chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao nên có nhiều quy hoạch chuyên ngành khác nhau về biển. Việc quản lý theo ngành, quy hoạch ngành đã đem lại một số kết quả nhất định, tuy nhiên, việc chưa có một quy hoạch tổng thể, thống nhất về khai thác, sử dụng biển dẫn đến sự mâu thuẫn chồng chéo giữa các ngành, lĩnh vực, đồng thời tài nguyên biển bị sử dụng một cách thiếu bền vững, môi trường sinh thái bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

    Có thể lấy quy hoạch cảng biển làm ví dụ. Cả nước hiện được quy hoạch thành 5 nhóm cảng biển trải dài từ Bắc vào Nam và theo quy hoạch, lượng hàng hóa thông qua cảng chiếm từ 900-1.100 triệu tấn/năm vào năm 2020. Hệ thống cảng được quy hoạch phục vụ cho sự phát triển của kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay, hệ thống cảng ở nhiều nơi được xây dựng quá sát nhau, thiếu các hạ tầng hỗ trợ. Khu vực cảng lại chưa kết hợp được với các ngành khác như thủy sản, du lịch… Đặc biệt, không gian xây dựng cảng biển thường ở những nơi có các hệ sinh thái nhạy cảm và rất giá trị. Điều này khiến các hoạt động của cảng đều tác động tiêu cực đến sinh thái và môi trường tự nhiên, như làm mất các nơi sinh cư của động thực vật, gây ô nhiễm nước, không khí và đất xung quanh khu vực cảng. Những tác nhân gây ô nhiễm vùng cảng biển lớn nhất là dầu mỡ khoáng, các phế thải trên tàu và phế liệu xây dựng xả xuống biển. Do đó, hàm lượng dầu mỡ khoáng trong nước biển cũng có xu hướng gia tăng tại các khu vực vịnh và cảng biển.

    Định hướng phát triển và khuyến nghị chính sách

    Nghị quyết Trung ương 4 khóa X đã xác định “đến năm 2020, phát triển thành công, có bước đột phát về kinh tế biển, ven biển như sau: 1) Khai thác, chế biến dầu, khí; 2) Kinh tế hàng hải; 3) Khai thác và chế biến hải sản; 4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; 5) Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển. Sau năm 2020, thứ tự phát triển kinh tế biển có sự thay đổi: 1) Kinh tế hàng hải; 2) Khai thác, chế biến dầu, khí và các loại khoáng sản; 3) Khai thác và chế biến hải sản; 4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; 5) Các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển”. Như vậy có thể thấy từ mức độ vĩ mô việc phát triển kinh tế biển được định hướng theo xu hướng giảm dần khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo và thay bằng các cách thức khai thác sử dụng biển một cách bền vững hơn.

    Hiện nay, trong quá trình phát triển kinh tế biển, vấn đề khai thác tổng hợp kinh tế biển là một yêu cầu vô cùng cấp bách do môi trường biển là một môi trường thống nhất, không chia cắt và rất nhạy cảm dưới tác động của con người. Việc khai thác không hợp lý dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Tuy nhiên, hầu như chúng ta mới chỉ khai thác dưới dạng thô (dầu khí, cát biển, muối biển…); giao thông vận tải biển cũng chưa xứng với tiềm năng; du lịch biển chưa đủ mạnh, nguy cơ suy thoái và ô nhiễm môi trường biển ngày càng cao. Do đó, để phát triển kinh tế biển bền vững, cần ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế biển chủ lực dựa trên cách tiếp cận dài hạn, bền vững và đồng bộ và gắn với bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

    Riêng với ngành tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí, cần phát triển ngành dầu khí đồng bộ, trở thành bộ phận quan trọng của an ninh năng lượng quốc gia và hướng tới việc khai thác bảo đảm nhu cầu trong nước và có dự trữ bảo đảm cho phát triển dài hạn. Bên cạnh đó, cần phát triển ngành dựa trên nguyên tắc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, hợp lý nguồn tài nguyên; lấy mục đích cuối cùng và yêu cầu của kinh tế thị trường để tiến hành triển khai các hoạt động tìm kiếm thăm dò khai thác, chế biến. Thêm nữa, cần tập trung đầu tư cho chế biến sâu đối với ngành dầu khí, hướng tới việc thay thế nhập khẩu và cải thiện khả năng điều tiết, bình ổn giá. Với ngành vận tải biển, cảng biển, cần phát triển vận tải biển theo hướng hiện đại hóa với chất lượng ngày càng cao, chi phí hợp lý, an toàn, hạn chế ô nhiễm môi trường và tiết kiệm năng lượng; tăng sức cạnh tranh của vận tải biển để chủ động hội nhập và mở rộng thị trường vận tải biển trong khu vực và trên thế giới. Còn với ngành du lịch biển, cần phát triển du lịch biển phải đặt trong tổng thể Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam gắn chặt với sự phát triển của các địa phương vùng ven biển. Phát triển du lịch biển có phân khúc, có trọng tâm, hướng tới sự bền vững và có chất lượng, đồng thời phát triển du lịch biển kết hợp chặt chẽ với mục tiêu bảo đảm quốc phòng – an ninh. Trong khi đó, ngành khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản cần phát triển phù hợp với chiến lược phát triển tổng thể của ngành nông nghiệp trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả lợi thế tiềm năng, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

    Bên cạnh việc phát triển các ngành kinh tế biển chủ lực, cần thực hiện song song các giải pháp về bảo vệ môi trường, bảo vệ bờ biển và quy hoạch biển để thúc đẩy kinh tế biển phát triển bền vững.

    Hiện nay, lĩnh vực bảo vệ môi trường biển và hải đảo đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật đề cập như Luật Dầu khí, Luật Thủy sản, Luật Hàng hải, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo… Tuy nhiên, để quản lý công tác bảo vệ môi trường biển tốt hơn, cần tăng cường hệ thống giám sát, xây dựng các báo cáo định kỳ hàng tháng về môi trường biển, phối hợp với các đơn vị để thu nhận thông tin kịp thời về các sự cố gây ô nhiễm môi trường biển. Mặt khác, cần xây dựng quy định xử phạt đối với từng trường hợp gây ô nhiễm như hoạt động xả trộm chất thải ngoài khơi, hành vi cố ý gây ô nhiễm môi trường biển từ ngoài biên giới, hành vi nhận chìm không xin phép… Ngoài ra, cần tăng cường các hình thức tuyên truyền, giúp cho người dân, chính quyền hiểu được tầm quan trọng của biển, sự cần thiết của việc bảo vệ môi trường biển.

    Song song với đó, cần khẩn trương thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển. Theo quy định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đến thời điểm tháng 2/2018, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển có trách nhiệm thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển thuộc phạm vi quản lý. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chưa có địa phương nào thực thi nhiệm vụ này. Do vậy, trong thời gian tới cần nhanh chóng thúc đẩy việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển ở các địa phương.

    Cuối cùng, cần đặc biệt chú ý vấn đề quy hoạch biển. Hiện đã có quy định về việc xây dựng và ban hành một số quy hoạch mang tính tổng thể ở biển như: Quy hoạch tổng thể sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; Quy hoạch sử dụng biển Việt Nam; Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ hay gần đây là Quy hoạch không gian biển quốc gia. Các quy hoạch này tuy có khác nhau về tên gọi, phạm vi… song vẫn mang tính liên ngành, tổng thể và góp phần giảm bớt xung đột chồng chéo giữa các ngành, lĩnh vực sử dụng biển, đồng thời bảo vệ được các hệ sinh thái biển. Tuy nhiên, hiện chưa có quy hoạch nào trong số các quy hoạch nêu trên được ban hành. Do đó, cần gấp rút triển khai nhiệm vụ này nhằm đảm bảo hài hòa trong khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, đồng thời đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển.
    Bên cạnh việc phát triển kinh tế biển cũng cần phải tăng cường lực lượng tuần tra giám sát nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo bởi : Biển Đông là các đảo, quần đảo ngoài khơi, như Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm ở vị trí trung tâm – một trong những nơi có nhiều tuyến đường hàng hải đi qua nhất trên thế giới. Các quần đảo này đóng vai trò cực kỳ quan trọng với tư cách là các vị trí phòng thủ chiến lược trọng yếu đối với nhiều quốc gia trong khu vực Biển Đông. Đồng thời là các cơ sở hậu cần phục vụ các hoạt động biển xa, như kiểm soát các tuyến hàng hải đi qua lại trên Biển Đông, dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm ra-đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền, qua đó góp phần bảo vệ an ninh quốc gia và đẩy mạnh phát triển kinh tế đất nước.
    Nik quê hương vải thiều
    Id 4843479
    (Nguồn: từ Internet)
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  5. Phật Tích Chắn Môn

    Phật Tích Chắn Môn Chánh tổng

    “Biển Đông” là biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải rộng từ vĩ độ 30B đến 260B, từ 1000 Đ đến 1210 Đ. Ngoài Việt Nam, “Biển Đông”được bao bọc bởi tám nước: Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Bruney, Malaixia, Singapore, Thái Lan và Campuchia.Đây là một biển rìa lục địa (marginal sea), một phần của Thái Bình Dương, bao phủ một vùng lãnh hải từ Singapore tới eo biển Đài Loan với diện tích ước lượng khoảng 3.500.000 km2. Trên thế giới, đây là một hình thể biển lớn thứ nhì sau năm đại dương và biển Ả Rập.

    Thuộc chủ quyền Việt Nam, Biển Đông có vùng biển và thềm lục địa rộng khoảng một triệu ki-lô-mét vuông (lớn gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền), mở ra trên cả ba hướng: Đông, Nam và Tây-Nam, với chiều dài bờ biển trên 3.260 ki-lô-mét. Trên vùng biển của đất nước có 48 vũng, vịnh, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và có khoảng 3.000 đảo lớn, nhỏ (riêng hệ thống đảo ven bờ có 2.773 đảo). Hiện nay, về tổ chức hành chính, Việt Nam có 12 huyện đảo: Cô Tô, Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ, Cát Hải (Thành phố Hải Phòng), Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị), Hoàng Sa (Thành phố Đà Nẵng), Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi), Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa), Phú Quý (tỉnh Bình Thuận), Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), Kiên Hải, Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang). Trong các huyện đảo nói trên, có nhóm huyện đảo tuyến trong, nhóm huyện đảo tiền tiêu-biên giới và nhóm huyện đảo tiền tiêu.

    Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Không chỉ cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, Biển Đông còn tạo điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ trực tiếp với các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hoá.

    Vùng biển của Việt Nam rất giàu tài nguyên và cũng là vùng biển chứa đựng nhiều giá trị về mỹ học, địa chất-địa mạo học với Di sản thiên nhiên thế giới Hạ Long và các khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đây còn là vùng biển có nguồn lợi sinh vật, các hệ sinh thái phong phú và nhiều loại khoáng sản với trữ lượng lớn.

    Vùng biển Việt Nam là một trong những khu vực có nguồn lợi hải sản phong phú trên thế giới và có tính đa dạng sinh học cao. Theo một số công trình nghiên cứu đã công bố, ở vùng biển Việt Nam có khoảng 2.458 loài cá thuộc 206 họ và nhiều loài hải sản khác ngoài cá, trữ lượng nguồn lợi hải sản biển nước ta ước tính khoảng 4,18 triệu tấn (không tính trữ lượng mực, tôm biển, các loài động vật đáy và rong biển sống ở vùng triều ven bờ).

    Về khoáng sản: Ngoài dầu khí (tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác khoảng 02 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ mét khối; trữ lượng khai thác ở Việt Nam đang đứng thứ 4 về dầu mỏ và thứ 7 về khí đốt trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thứ 25 và 30 trên thế giới), tài nguyên khoáng sản Biển Đông rất phong phú với các sa khoáng biển kim loại hiếm, chủ yếu là thiếc, titan, ziricon, vonfram, brom, sắt, đồng. Đồng thời, tại đây còn có một số khoáng sản hoà tan khác với nồng độ thấp hơn: bạc, uran và ito. Khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên băng cháy (methane hydrate), loại năng lượng sạch trong tương lai có thể còn quý hơn dầu mỏ.

    Về du lịch: Với lợi thế đường bờ biển dài hơn 3.200 km, Việt Nam có nhiều tiềm năng về phát triển du lịch biển. Các bãi biển đẹp trải dài từ Bắc đến Nam với khoảng 125 bãi tắm đẹp cả lớn và nhỏ, trong đó có nhiều bãi biển được xếp hạng trên thế giới. Bờ biển Việt Nam cũng có gần 50 vũng vịnh lớn nhỏ, trong đó có nhiều vịnh được đánh giá cao trên thế giới như vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), vịnh Nha Trang (Khánh Hòa), vịnh Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) và vịnh Xuân Đài (Phú Yên). 2.773 đảo lớn nhỏ ven bờ, trong đó vịnh Hạ Long có 2.000 đảo, với nhiều hình thái đặc biệt - địa hình kast ngập nước, được du khách quốc tế biết đến như một kỳ quan của tạo hóa.Trong những năm qua, du lịch các tỉnh ven biển đóng góp khá quan trọng vào sự phát triển kinh tế, chiếm hơn 60% tổng thu từ du lịch của cả nước.

    Về an ninh, quốc phòng: Biển Đông đóng vai trò quan trọng là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam.

    Với những yếu tố địa lý, lịch sử, xã hội và với sự đa dạng về tài nguyên như vậy, Biển Đông nói chung, vùng biển Việt Nam nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay.


    Phật Tích Chắn Môn ID 5191194
    (Tổng hợp từ Internet)
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  6. BÔ LÃO SÂN ĐÌNH GỬI KẾT QUẢ DỰ THI CÂU ĐỐ VUI THÁNG 6/2019.

    Sau một tháng 6 nóng nực, nhiều BẠN DỰ THI nhiệt tình tham gia Câu Đố Vui 6/2019.Người Việt ai cũng yêu Biển Đông, có nhiều hiểu biết về Biển Đông. Ban Giám Khảo mong muốn BẠN DỰ THI trả lời câu hỏi bằng ngôn ngữ, suy nghĩ của bản thân thì hay hơn. Ban Giám Khảo nêu 10 phương án dự thi theo suy nghĩ đó làm ví dụ như sau: NẾU:

    1-Tổ Quốc là ngôi nhà: Biển Đông = MẶT TIỀN

    2-Tổ Quốc là 1 cơ thể: Biển Đông = LÁ PHỔI.

    3-Tổ Quốc là 1 gia đình: Biển Đông = MẸ HIỀN: sinh ra, nuôi dưỡng, truyền thuyết xưa gọi là Mẹ Âu Cơ.

    4-Tổ Quốc cần được nuôi dưỡng: Biển Đông là nguồn lương thực, thực phẩm, năng lượng bền vững. Là THỬA RUỘNG 3 SÀO ông cha để lại.

    5-TỔ QUỐC cần được bảo vệ: Biển Đông là HANG Ổ CUỐI CÙNG,căn cứ quan trọng nhất.

    6-Tổ Quốc muốn được phát triển: Biển Đông là CỬA MỞ đến với các quốc gia trên thế giới.

    7-Tổ Quốc đất chật người đông: Biển Đông là VÙNG DÂN SINH VÔ TẬN đủ cho tỉ người Việt sinh sống.

    8-Tổ Quốc có lịch sử: Biển Đông là CON ĐƯỜNG NGƯỜI VIỆT CỔ ĐẠI DI CƯ đến mảnh đất VN.

    9-Tổ Quốc đa dạng sinh học: Biển Đông là NGUỒN GỐC ĐA DẠNG SINH HỌC vì tạo ra khí hậu nhiệt đới gió mùa.

    10-Tổ Quốc hôm nay: YÊU BIỂN ĐÔNG = YÊU NƯỚC .


    Ban Giám Khảo lựa chọn bài dự thi và có kết quả sau:

    1-Giải Nhất(150M): Tào 1.

    2-Giải Nhì(100M): chachavn.

    3-Giải Ba(50M): hungngoduc.

    4-Các Giải Khuyến Khích (10M): hunglien1992; aaaoooeee; soaica1983; Diêm La Trần Gian; hoainam2308; kubj872018; 1Axe1Axe; Xứ Đoài mây trắng; Timekiller; 0983193293; Hết Tuổi Vào Buồng; Ngư Ông Cấy Giống; Hoa Rơi Cửa Lệch; quê tôi 102; timehunter; nắng ấm quê hương 98; quê tôi Bắc Giang; quê hương vải thiều; Phật Tích Chắn Môn.

    Hẹn Gặp các bạn với CÂU ĐỐ VUI THÁNG 7.



    NGUYỄN TIỂU THƯƠNG.
     
    Tào 1, dangbotot, Ngố Xinh Xinh6 others thích điều này.

  7. Hội Bô Lão Sân Đình đã trao giải sự kiện Câu Đố Tháng 6 theo danh sách của Bô lão @Nguyễn Tiểu Thương :

    - Giải Nhất 150m Bảo:
    @Tào 1
    - Giải Nhì 100m Bảo:
    @chachavn1
    - Giải Ba 50m Bảo:
    @hungngoduc

    Các giải Khuyến khích 10m Bảo:
    @hunglien1992
    @aaaoooeee
    @soaica1983
    @Diêm La Trần Gian
    @hoainam2308
    @kubj872018
    @1Axe1Axe
    @Xứ Đoài mây trắng
    @Timekiller
    @0983193293
    @Ngư Ông Cấy Giống
    @Hoa Rơi Cửa Lệch
    @quê tôi 102
    @timehunter
    @nắng ấm quê hương 98
    @quê tôi bắc giang
    @quê hương vải thiều
    @Phật Tích Chắn Môn .

    Các bạn vui lòng kiểm tra giao dịch và báo lại cho BTC nếu chưa nhận được quà. Cảm ơn các bạn đã tham gia Sự kiện Câu Đố Tháng 6, hẹn gặp lại các bạn ở những sự kiện tiếp theo !

    Trân trọng !
     
    Tào 1, Nguyễn Tiểu Thương, dangbotot6 others thích điều này.
  8. chachavn1

    chachavn1 Chánh tổng

    Cảm ơn các bô lão cháu đã nhận giải rồi ạ@};-@};-@};-@};- lần nào cháu tham gia cũng đạt giải nhì ngại quá:D
     
  9. Timekiller

    Timekiller Thổ địa

    Hay quá bác ạ!
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  10. Timekiller

    Timekiller Thổ địa

    Xin cảm ơn BTC.
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  11. hoainam2308

    hoainam2308 Chánh tổng

    Xin cảm ơn BTC!
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  12. HỘI BÔ LÃO SÂN ĐÌNH GỬI BẠN SÂN ĐÌNH: CÂU ĐỐ VUI 7/2019

    Bạn Dự Thi hãy nêu “Những hiểu biết của bản thân về SỰ VƯỢT TRỘI CỦA TIẾNG VIỆT SO VỚI CÁC NGÔN NGỮ CỦA NHIỀU DÂN TỘC TRÊN TRÁI ĐẤT KHI ĐỨA TRẺ HỌC NÓI, HỌC VIẾT”.

    Yêu cầu của Đề Thi:

    1/ “NHỮNG HIỂU BIẾT CỦA BẢN THÂN”: nêu ít nhất hai ý.

    2/ “SỰ VƯỢT TRỘI CỦA TIẾNG VIỆT KHI ĐỨA TRẺ HỌC NÓI, HỌC VIẾT”: nêu các điểm “vượt trội” theo ý bạn.

    3/ Bài thi đạt giải cao nếu Bạn Dự Thi nêu được nhiều ý chưa xuất hiện quen thuộc trong thông tin đại chúng bằng lời văn của bản thân.

    4/ Bài Dự Thi gửi về Mục ĐỐ VUI CÓ THƯỞNG – HỘI BÔ LÃO SÂN ĐÌNH- SANDINH.COM

    5/ Giải thưởng: 3 Giải Nhất Nhì Ba (150M, 100M, 50M) và vô vàn Giải Khuyến Khích 10M.

    6/ Thời hạn Dự Thi: 1/7/2019 đến hết ngày 31/7/2019.

    -Ngày 2/8/2019, Tào Tháo sẽ đại diện Hội BLSĐ gửi phần quà cuộc thi tới các bạn đoạt Giải

    NGUYỄN TIỂU THƯƠNG




    :):):):)):)):))
     
    Tửu Thần, 500 Anh Em, Tào Tháo3 others thích điều này.
  13. chachavn1

    chachavn1 Chánh tổng

    TIẾNG VIỆT CÓ PHẢI LÀ MỘT NGÔN NGỮ KHÓ KHÔNG?
    1. LỜI ĐỒN ĐẠI HAY LÀ SỰ THẬT?
    1.1. Học tiếng Việt có khó không?

    - Tiếng Việt bất ngờ lọt top 10 ngôn ngữ 'khó nuốt' nhất trên bảng tổng sắp 2.650 ngôn ngữ toàn thế giới ( theo bài báo: https://baomoi.com/tieng-viet-bat-n...p-2-650-ngon-ngu-toan-the-gioi/c/29279521.epi)
    - Học tiếng Việt có khó không? Đa số mọi người cho rằng tiếng Việt là “một ngôn ngữ rất khó.” Nhiều người Việt tin rằng người nước ngoài gần như không thể nào sử dụng ngôn ngữ này một cách thành thạo được. Dùng Google để tìm kiếm những cụm từ như tiếng Việt khó sẽ đưa ra hàng chục nghìn kết quả.
    Theo lời của George Milo:Việc thứ tiếng chính thức của Việt Nam được cho là một ngôn ngữ “khó” chính là một điểm đáng tự hào đối với 90 triệu người dân đất nước này, và cứ có cơ hội là những người bản xứ sẽ không ngần ngại gì mà nói với bạn rằng “tiếng Việt khó!”.
    Trong tiếng Việt có một câu thành ngữ: "Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam".
    1.2. Vạch trần sự thật
    Chúng ta sẽ vạch trần một số những lời đồn đại xung quanh thứ tiếng mà mọi người cho là “khó” này.
    Một câu trả lời tốt cho câu hỏi “Học tiếng Việt có khó không?” sẽ là Học tiếng Việt không khó cũng không dễ.
    Như chúng ta sẽ thấy, nhiều phương diện của ngữ pháp tiếng Việt là dễ chứ không khó. Trên thực tế, nói một cách chính xác hơn, tiếng Việt đa phần là một “ngôn ngữ dễ” chứ không phải là một “ngôn ngữ khó”. Tuy nhiên, một phương diện của tiếng Việt, phần phát âm, thực sự khá khó. Để có được một cái nhìn cân bằng.
    2. TẠI SAO TIẾNG VIỆT DỄ
    2.1. Từ ngắn

    Một yếu tố quan trọng khiến cho tiếng Việt dễ học nằm ở việc đa số từ vựng ngắn, một số từ rất ngắn. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng nhìn chung, tiếng Việt là một trong những thứ tiếng có độ dài trung bình của một từ ngắn nhất trên thế giới. Có hàng ngàn những từ một âm tiết được dùng trong cuộc sống hằng ngày, như là có, đi, ăn, ngủ,. Nhưng ngay cả những từ hai âm tiết (với số lượng nhiều hơn nhiều so với những từ một âm tiết) như là thú vịngoại ngữ vẫn khá ngắn.
    Hãy so sánh từ đẹp với beautiful trong tiếng Anh và utsukushii trong tiếng Nhật, hoặc là mai so với tomorrow của tiếng Anh và ashita của tiếng Nhật. Từ tiếng Việt ngắn hơn nhiều. Hãy thử nghĩ đến những lợi ích tuyệt vời mà từ ngắn mang lại cho người học đi. Từ ngắn (1) dễ ghi vào trí nhớ hơn, (2) dễ lấy ra từ trí nhớ hơn, và (3) dễ viết hơn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng dễ phát âm hơn!
    2.2. Thanh điệu ổn định
    Một trở ngại lớn trong việc học tiếng Việt là hệ thống thanh điệu . Nhưng trên phương diện thực tế, ta có thể nói là thanh điệu của tiếng Việt không thay đổi tuỳ theo ngữ cảnh.
    Trên lí thuyết, những thay đổi như vậy được gọi là biến điệu, tức là hiện tượng một thanh điệu trở thành một thanh điệu khác tuỳ theo thanh điệu của các âm tiết bên cạnh nó. Đây là một hiện tượng quen thuộc đối với những người nói tiếng Quan Thoại. Ví dụ, âm tiết đầu tiên trong một từ có hai thanh điệu thứ ba sẽ biến đổi thành thanh điệu thứ hai, như trong từ 你好 nǐ hǎo. Từ này thực ra được đọc là ní hǎo. Trong các ngôn ngữ có thanh điệu khác, đặc biệt là một số phương ngữ của tiếng Trung như là tiếng Đài Loan, các quy tắc biến điệu có thể rất phức tạp và gây ra trở ngại lớn cho người học.
    Trong tiếng Việt, một khi bạn học được thanh điệu của một âm tiết, bạn không còn cần phải lo là nó sẽ thay đổi tuỳ theo ngữ cảnh. Về căn bản, các thanh điệu tiếng Việt ổn định, khiến cho việc học dễ dàng hơn so với các ngôn ngữ có biến điệu.
    2.3. Không giới tính
    2.3.1. Giới tính rắc rối

    Phạm trù ngữ pháp giới tính không hiện diện trong tiếng Việt, Tiếng Việt không có giống đực và cái. Đối với những ai đã học những ngôn ngữ như là tiếng Tây Ban Nha, Đức, và Ả-rập, thì đây là một tin tốt, vì giới tính có thể rất bất quy tắc và cực kì phi lí. Ví dụ, tại sao ‘mặt trời’ là giống đực trong tiếng Ả-rập (شمس shams) và là giống cái trong tiếng Hebrew (שמש shemesh)? Và tại sao Mädchen ‘cô gái’ là trung tính trong tiếng Đức (một ngôn ngữ có đến ba giới tính) mà lại không phải là giống cái? Do đó, trong tiếng Đức, người học không có lựa chọn nào khác ngoài việc ghi nhớ giới tính của hàng nghìn danh từ.
    Trong một số ngôn ngữ, tính từ, danh từ, và mạo từ có giới tính. Trong tiếng Tây Ban Nha la muchacha bonita là ‘cô gái đẹp’ và el muchacho bonito là ‘cậu bé đẹp’, nhưng tính từ grande ‘lớn’ lại không thay đổi, dù là dùng với danh từ đực hay là cái. Trong một số ngôn ngữ, cả động từ cũng thay đổi theo giới tính. Trong tiếng Ả-rập và Hebrew, có hàng tá những dạng khác nhau như vậy cho mỗi động từ. Ví dụ, ‘bạn ăn’ trong tiếng Ả-rập là تأكل ta'kulu khi đang nói chuyện với nam giới, nhưng lại là تأكلين ta'kuliina khi nói chuyện với nữ giới.
    2.3.2. Tự do khỏi giới tính
    Giới tính chỉ là một gánh nặng lịch sử gây trở ngại cho người học và không hề hữu dụng trong giao tiếp. Người học có thể dành hàng năm trời học những ngôn ngữ như tiếng Đức hay Ả-rập mà vẫn không hoàn toàn làm chủ được đặc điểm ngữ pháp khó khăn này. May mắn thay, tiếng Việt, và một số ngôn ngữ phi giới tính khác như là tiếng Nhật và tiếng Trung, không có giới tính ngữ pháp, và đây là một trong số những lí do tại sao tiếng Việt dễ học.
    2.3.3. Phi giới tính
    Hãy nghĩ xem việc sử dụng một ngôn ngữ phi giới tính như là tiếng Việt, tiếng Anh, và tiếng Trung tiện lợi như thế nào. Ví dụ:
    Bạn tôi là một bác sĩ.
    My friend is a doctor.
    我的朋友是医生. (Wǒ de péngyou shì yīshēng)
    Câu này không hề nhắc đến giới tính của cả người bạn và người bác sĩ. Những ngôn ngữ như tiếng Tây Ban Nha, Đức, Ả-rập, và nhiều thứ tiếng khác thì không như vậy. Trong tiếng Tây Ban Nha, bạn bắt buộc phải chọn giữa Mi amigo es un doctor khi người bạn đó là nam giới và Mi amiga es una doctora khi người đó là nữ. Không như tiếng Việt, bạn không có lựa chọn là không nói đến giới tính của cả người bác sĩ lẫn người bạn.
    Đương nhiên, đôi khi ta cần phải nói rõ giới tính, như khi cần nhấn mạnh giới tính của một người hay động vật. Trong tiếng Việt, bạn có thể nói đến con chóbác sĩ mà không nhắc đến giới tính, hoặc bạn có thể nói rõ giới tính bằng cách nói chó đực hay bác sĩ nam. Thật tiện lợi!
    2.4. Không số nhiều
    Phạm trù ngữ pháp số nhiều không hiện diện trong tiếng Việt (ngoại trừ một số đại từ).
    2.4.1. Danh từ và tính từ
    Học dạng số nhiều của các danh từ và tính từ còn phức tạp hơn là học giới tính. Đối với những ai đã học những ngôn ngữ như là tiếng Đức và Ả-rập, đây là một tin tuyệt vời, bởi vì dạng số nhiều thường rất bất quy tắc. Hơn nữa, dạng số nhiều có thể có giống cái, và tiếng Ả-rập còn có một loại số nữa, gọi là số cặp, chỉ dùng cho các cặp đôi, như ta có thể thấy trong bảng sau:
    [​IMG]
    Không những thế, người ta cho rằng có đến 90% các từ số nhiều trong tiếng Ả-rập là không có quy tắc và do đó rất khó lường. Tức là không hề có quy luật nào để đoán được rằng dạng số nhiều đó ra sao. Hơn nữa, nhiều danh từ có hai, ba, hay thậm chí nhiều dạng số nhiều hơn thế. Trong tiếng Đức thì tình hình có phần đỡ hơn, nhưng vẫn còn nhiều quy tắc số nhiều để ghi nhớ. Bảng sau đây chỉ cho thấy một số ít những quy tắc đó:
    [​IMG]
    2.4.2. Động từ số nhiều
    Hơn nữa, dạng động từ của một số ngôn ngữ (và cả ở trong tiếng Anh ở một mức độ nhất định) thay đổi theo số lượng. Trong trường hợp tiếng Ả-rập và Hebrew, có hàng tá các dạng số nhiều. Ví dụ, trong tiếng Hebrew:
    [​IMG]
    2.4.3. Số nhiều không bắt buộc
    Việc học dạng số nhiều trong một số ngôn ngữ có thể rất mất thời gian. May mắn thay cho những ai học tiếng Việt, đây không phải là vấn đề bởi vì danh từ, tính từ, và động từ tiếng Việt không thay đổi theo số lượng. Danh từ tiếng Việt là “phi số lượng”, cho nên chó hay con chó có thế có nghĩa là ‘một con chó’ hay ‘nhiều con chó’ tuỳ theo ngữ cảnh.
    Đương nhiên, ta hoàn toàn có thể diễn tả số nhiều của danh từ khi cần thiết. Ta có thể làm điều này bằng cách (1) sử dụng một con số + loại từ ở trước danh từ (xem §3.7 ở dưới), như là năm con chó, và (2) sử dụng từ đánh dấu số nhiều những, như là những con chó. Điều quan trọng là bản thân cấu tạo của chính từ đó, trong trường hợp này làchó, không bao giờ thay đổi. Đây lại là một lí do nữa để ta có thể nói rằng ngữ pháp tiếng Việt dễ học.
    2.5. Không có mạo từ
    Phạm trù ngữ pháp mạo từ không hiện diện trong tiếng Việt. Những ai học các ngôn ngữ châu Âu như là tiếng Đức và Bồ Đào Nha đều biết rằng việc học có thể trở nên phức tạp đến thế nào khi phải (1) học hệ thống mạo từ trong khi chúng có thể thay đổi tuỳ theo giới tính, số lượng, và cách thể, và (2) biết được khi nào sử dụng mạo từ xác định, mạo từ bất định, hay không sử dụng mạo từ. Bởi vì giới tính và cách thể thường khá là bất quy tắc và phi lí, sử dụng thành thạo mạo từ không phải là việc dễ. Bảng dưới đây cho thấy các dạng mạo từ xác định khác nhau trong tiếng Đức. Cũng có những bảng tương tự để miêu tả các mạo từ bất định, cũng như các từ tương tự như mạo từ như là đại từ.
    [​IMG]
    2.6. Không cần chia động từ
    2.6.1. Ác mộng và thiên đường

    Đối với nhiều ngôn ngữ, người học phải dành ra vô số giờ đồng hồ học để có thể sử dụng được thuần thục vô số dạng động từ được chia theo thì, ngôi thứ, số lượng, giới tính, thể, và cấp độ lịch sự. Việc chia động từ này có thể dẫn đến hàng trăm dạng động từ khác nhau (tiếng Ả-rập và Tây Ban Nha), hay thậm chí là hàng ngàn dạng (tiếng Nhật), và chúng được sắp xếp thành hàng tá những bảng được gọi là “hệ biến hoá chia động từ”. Động từ Ả-rập là cơn ác mộng tồi tệ nhất của những người học ngôn ngữ. Sau đây là một phần nhỏ của một hệ chia động từ thông thường.
    [​IMG]
    Tiếng Ả-rập có 13 ngôi thứ, và bảng ở trên chỉ cho thấy năm ngôi. Đây chỉ là một trong số 20 bảng tương tự, tất cả chỉ để dành riêng cho một động từ ىرَ َتشْ này có số lượng khổng lồ 42,000 dạng từ, dùng cho 14 quy luật chia động từ, được chia thành 182 nhóm nhỏ, 13 ngôi thứ ngữ pháp, và 240 dạng biến tố , tất cả được quản lí bởi một mạng lưới phức tạp đầy những quy luật, quy luật phụ, ngoại lệ, và ngoại lệ phụ, đủ để khiến cho thậm chí là những linh hồn can đảm nhất cũng phải hoá điên. Các ngôn ngữ khác như là tiếng Tây Ban Nha, Nga, và Hebrew cũng có nhiều bảng hệ biến hoá với rất nhiều ngoại lệ, và học được chúng là một việc rất tốn công sức.
    Trong khi đó tiếng Việt thì ngược lại hẳn. Thứ tiếng này là “thiên đường của người chia động từ.” Nói đơn giản, thìtiếng Việt không chia động từ. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của tiếng Việt khiến cho nó dễ học. Động từ tiếng Việt dễ vì hai lí do: (1) chúng thường ngắn (một âm tiết), như là điăn và, quan trọng hơn, (2) chúng chỉ có một dạng không thay đổi, như là một khối vàng vậy, vĩnh viễn bất biến. Một khi đã học được rằng ăncó nghĩa là ‘to eat’, bạn ngay lập tức nắm vững được hoàn toàn và vĩnh viễn toàn bộ “hệ biến hoá chia động từ” của nó – bao gồm duy nhất một dạng. Điều này giúp giải phóng bạn khỏi một trong những trở ngại lớn nhất mà những người học ngôn ngữ gặp phải.
    2.6.2. Thì rất dễ
    Thì, thể, và dạng bị động trong tiếng Việt được diễn đạt bằng một số lượng nhỏ các tiểu từ, được gọi là từ chỉ định thì, được đặt ở trước động từ như sau:
    tôi đã ăn tôi ăn rồi
    tôi sẽ ăn tôi đang ăn
    tôi sắp ăn tôi mới/vừa ăn
    được khen bị chỉ trích

    Mặc dù một số từ chỉ định thì có thể được ghép lại với nhau để tạo ra các cấu trúc phức tạp hơn, nhưng bạn vẫn có thể nắm vững được căn bản của hệ thống thì trong tiếng Việt chỉ trong vòng vài phút ngắn ngủi. Đây là một điều không tưởng đối với đại đa số các ngôn ngữ trên thế giới.
    2.6.3. Thì không bắt buộc
    Không như nhiều ngôn ngữ khác, tiếng Việt không bắt buộc sử dụng thì. Có hai cách để truyền tải thông tin thì mà không dùng từ chỉ định thì. Cách đầu tiên là dùng từ thời gian, như là hôm quatuần này. Ví dụ, trong câu Tôi ăn trưa hôm qua, từ thời gian hôm qua đã làm rõ là hành động này xảy ra trong quá khứ. Cách thứ hai là dựa hoàn toàn vào ngữ cảnh, như là:
    Tuần trước tôi đi đến Tokyo. Sau đó tôi đi đến Boston.
    Trong câu thứ hai, ngữ cảnh đã chỉ rõ là việc đi xảy ra trong quá khứ, mặc dù câu này không hề sử dụng từ chỉ định thì và từ thời gian.
    2.7. Dạng từ không thay đổi theo cách thể
    Phạm trù ngữ pháp cách thể không hiện diện trong tiếng Việt. Trong những ngôn ngữ như là tiếng Ả-rập và tiếng Đức, danh từ, tính từ, và đại từ sẽ thay đổi tuỳ theo việc chúng là chủ ngữ (danh cách), tân ngữ trực tiếp (đối cách), tân ngữ gián tiếp (tặng cách), hay là chủ sở hữu (sở hữu cách), như ta thấy trong bảng cách thể của từ tiếng ĐứcTisch ‘cái bàn’ sau đây:
    [​IMG]
    Việc học hệ thống cách thể (là một thứ thường bất quy tắc và phi lí) của một số ngôn ngữ là một quá trình cực nhọc, và là một gánh nặng đối với người học. May mắn thay cho người học, từ tiếng Việt không thay đổi theo cách thể. Chức năng của từ được chỉ định bởi thứ tự từ (chủ ngữ trước động từ, và tân ngữ sau động từ), hoặc bởi giới từ, như câu:
    Lan đã gửi thư cho mẹ.
    Rõ ràng rằng chủ ngữ là Lan, tân ngữ trực tiếp là thư dựa theo thứ tự câu, và mẹ là tân ngữ gián tiếp bởi vì có giới từcho.
    2.8. Không có sự phù ứng
    Sự phù ứng không hiện diện trong tiếng Việt. “Sự phù ứng” chỉ đến hiện tượng mà trong đó, dạng của một từ thay đổi tuỳ theo thì, số lượng, hay giới tính của các từ ở gần nó. Ví dụ, trong cụm từ tiếng Anh these men, số nhiềuthese phải đi kèm với số nhiều men, trong khi tiếng Ả-rập và Hebrew thì có hiện tượng phù ứng giới tính cho động từ. Ví dụ, ‘anh ấy ăn’ sẽ là לכוא 'oxel, nhưng khi đổi thành ‘cô ấy ăn’ thì nó lại là תלכוא 'oxelet. Sử dụng thuần thục được hiện tượng phù ứng trong một số ngôn ngữ, như là tiếng Đức và tiếng Ả-rập, có thể là một vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi người học phải có được kiến thức chi tiết về việc chia động từ, số lượng, và giới tính – vốn là một nỗ lực có thể kéo dài nhiều năm.
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  14. chachavn1

    chachavn1 Chánh tổng

    Tiếp theo..............
    2.9. Dễ đọc


    Trong vòng khoảng 1000 năm, tiếng Việt được viết bằng một hệ thống chữ dựa trên tiếng Trung Quốc, được gọi làchữ Nôm. Hệ thống này đã bị bãi bỏ vào đầu thế kỉ thứ 20. Thay thế nó là bảng chữ cái tiếng Việt (chữ Quốc ngữ), dựa trên bộ chữ Latin và có thêm các dấu để biểu thị thanh điệu. Thông tin căn bản về bảng chữ cái tiếng Việt được giải thích ở đường dẫn sau đây: http://www.wikiwand.com/vi/Chữ_Quốc_ngữ

    Không như các bộ chữ của các ngôn ngữ châu Á khác như là tiếng Trung Quốc, Thái, Nhật, Hàn Quốc, và Miến Điện, ta có thể nắm vững bảng chữ cái này chỉ trong một thời gian ngắn, vì nó tương tự như các ngôn ngữ châu Âu. Mặc dù các dấu thanh điệu mới nhìn thì trông có vẻ đáng sợ, chúng được dùng một cách hợp lí và dễ nhớ. Điều này có nghĩa là so với nhiều ngôn ngữ châu Á khác, bộ chữ Việt dễ học và dễ đọc. Nhưng điều này không có nghĩa là nó dễ phát âm! Trên thực tế, phần phát âm chính là phương diện khó khăn nhất trong việc học tiếng Việt, như tôi sẽ giải thích ở phần §3 dưới đây.

    2.10. Dễ viết

    Bởi vì bảng chữ cái tiếng Việt được dựa trên bảng chữ cái Latin, nên nó dễ viết. Một tin tốt cho người học là, không như các ngôn ngữ như là tiếng Pháp và tiếng Anh, chính tả tiếng Việt khá là quy tắc. Trong cách phát âm Hà Nội tiêu chuẩn, cách đọc của mỗi chữ cái hay chữ ghép (là chữ ghép từ hai chữ cái) không hề thay đổi (ngoại trừ một số từ mượn). Mặc dù cách phát âm một số phụ âm có thể khác nhau khi phụ âm đứng cuối chữ, nhưng nhìn chung thì chính tả tiếng Việt khá dễ học.

    Mặc dù tiếng Việt có sự tương ứng giữa chữ viết với âm thanh (tự vị với âm vị) khá tốt, đáng tiếc là điều ngược lại không phải lúc nào cũng đúng. Tức là, trong một số trường hợp, một âm có thể được viết bằng nhiều cách, tuỳ theo gốc gác của chữ đó. Trong tiếng Hà Nội tiêu chuẩn, hiện tượng này xảy ra đối với các trường hợp sau đây.

    [​IMG]

    2.11. Từ dễ

    Đa số các từ tiếng Việt đều xuất phát từ tiếng Trung Quốc hoặc dựa trên mô hình tạo từ ngữ của Trung Quốc. Trong quá khứ, mỗi tiếng từng được viết bằng một kí tự Trung Quốc, và thường miêu tả một ý nghĩa rõ ràng. Từ ghép được tạo ra bằng cách kết hợp các tiếng lại theo một cách nhất định, và thường ta có thể dễ dàng đoán được ý nghĩa của cả từ dựa trên các thành phần của nó. Ví dụ:

    ngoại (外) ‘bên ngoài’ + ngữ (語) ‘thứ tiếng’ → ngoại ngữ (外語) ‘tiếng nước ngoài’

    thực (食) ‘ăn’ + phẩm (品) ‘vật’ → thực phẩm (食品) ‘thức ăn’

    Trong tiếng Trung và Nhật, cơ chế tạo từ này rất rõ ràng bởi vì nếu ta biết được ý nghĩa của các thành phần, ta sẽ dễ dàng hiểu được ý nghĩa của từ ghép. Nhưng ngay cả khi kí tự Trung Quốc không còn được dùng nữa, việc biết được ý nghĩa của các thành phần sẽ giúp việc học từ mới trở nên dễ dàng hơn.

    2.12. Ngữ pháp dễ

    Mặc dù ngữ pháp Việt có một số mặt khó, nhìn chung ngôn ngữ này dễ hơn nhiều so với đa số các ngôn ngữ khác. Một lí do là vì nó có nhiều đặc điểm không bắt buộc: thì không bắt buộc, giới tính không bắt buộc, số nhiều không bắt buộc, và nhiều khi chủ ngữ cũng không bắt buộc. Như thể là không hề có chút tính chất bắt buộc nào trong cốt lõi của ngôn ngữ này vậy, và đây là một điều thật hợp lí và tiện lợi, bởi vì có nghĩa là người dùng không bị ép buộc phải truyền tải những thông tin không cần thiết, như là giới tính và số nhiều. Như chúng ta đã thấy, ta có thể nói

    Tiếng Việt Bạn tôi là một bác sĩ.

    Tiếng Anh My friend is a doctor.

    Tiếng Tây Ban Nha Mi amigo es un doctor

    mà không cần phải nói rằng bác sĩ đó là nam hay nữ, trong khi tiếng Tây Ban Nha đòi hỏi phải có chi tiết này. Cùng lúc đó, ta đã thấy rằng một vài đặc điểm ngữ pháp, như là việc chia động từ, sự phù ứng, và biến đổi từ theo cách thể hoàn toàn không có mặt trong tiếng Việt. Điều này có nghĩa là người học có thể dành ít thời gian học hơn, vì họ không cần phải dành nhiều sự tập trung của mình cho những đặc điểm không bắt buộc, và có thể hoàn toàn không quan tâm gì đến những đặc điểm không tồn tại trong ngôn ngữ này.

    2.13. Mật độ thông tin

    Đây là một sự thật đáng ngạc nhiên về tiếng Việt. Theo một nghiên cứu tại Université de Lyon, tiếng Việt có “mật độ thông tin” cao nhất trong số các ngôn ngữ chủ đạo trên thế giới, như ta thấy sau đây:

    [​IMG]

    Điều này có nghĩa là tiếng Việt chứa nhiều hơn gấp đôi số lượng thông tin trong cùng một số lượng âm tiết so với tiếng Nhật. Mặt khác, người nói tiếng Nhật nói nhanh hơn 50% để bù lại mật độ thấp, nhưng tiếng Việt vẫn hiệu quả hơn bởi vì nó có “tỷ lệ thông tin” cao hơn 25% (1.0 so với 0.74).


    Đối với người học thì điều này có ý nghĩa gì? Là mặc dù tiếng Việt được nói chậm hơn, người nghe phải tập trung hơn bởi vì có nhiều thông tin được dồn nén vào mỗi đơn vị thời gian hơn. Tuy vậy, mật độ cao hơn có lẽ cũng giúp việc học trở nên dễ hơn, vì lí do từ ngắn hơn nhiều và khả năng diễn tả ý nghĩa một cách hiệu quả. Hãy xem một ví dụ.


    [​IMG]

    Đúng như dự đoán, tiếng Nhật có số âm tiết nhiều hơn gần gấp 2.6 lần so với tiếng Việt, và thậm chí cả tiếng Anh cũng rườm rà hơn gấp 1.4 lần. Điều này chứng minh rằng tiếng Việt súc tích, có nghĩa là từ của nó ngắn (xem §2.1). Điều này có nghĩa là người học sẽ tốn ít thời gian hơn để đọc hay nghe tiếng Việt so với các ngôn ngữ khác.


    3. TẠI SAO TIẾNG VIỆT KHÓ

    Trở ngại lớn nhất trong việc học tiếng Việt là cách phát âm, đặc biệt là hệ thống thanh điệu. (Các bình luận dưới đây bàn về giọng Hà Nội tiêu chuẩn, ngoại trừ một số trường hợp có ghi chú.)

    3.1. Phụ âm tiếng Việt

    Tiếng Việt có 19 (hoặc 20) phụ âm. Tôi đã đưa tất cả, cùng với cách phát âm (bằng IPA) Hà Nội và Sài Gòn chính xác của chúng vào danh sách trên trang tiếng Việt của tôi. Đa số các phụ âm này tương tự như trong tiếng Anh và Tây Ban Nha, và chúng dễ phát âm. Chỉ có một phụ âm có thể nói là khó cho những người học: [ŋ], được viết là ng hayngh, trong những từ như ngủ. Nó được phát âm có phần giống như ng trong từ singing. [ŋ] đặc biệt khó phát âm khi nó đứng ở đầu từ, như trong ngôn ngữ. Trên Youtube có một đoạn phim tuyệt vời của Stuart Jay Raj, để dạy cho bạn cách phát âm đúng âm [ŋ].

    Một âm khá khó nữa là [x], được viết là kh trong những từ như khó. Âm này thường gặp trong những ngôn ngữ như tiếng Tây Ban Nha (ajo ‘tỏi’) và Trung Quốc (你好 nǐhǎo ‘xin chào’). Theo lí thuyết, âm [x] là một “âm sát vòm mềm vô thanh” (tức là khi phát âm thì không khí đi qua khoang hẹp, lưỡi đặt vào phần sau vòm họng, và thanh quản không rung) nhưng bạn đừng nản chí vì thuật ngữ này. Nó là một kiểu âm thanh kèn kẹt, được phát âm trong lúc phần sau của lưỡi đang chạm vào vòm miệng mềm. Bạn sẽ nhanh chóng làm quen với nó. Nếu bạn thật sự không thể phát âm nó được, thì hãy sử dụng cách phát âm của Sài Gòn, tức là một âm [kʰ] bật hơi như trong chữ car tiếng Anh.

    Các phụ âm khác không quá khó, nhưng một số âm cần được chú ý đặc biệt, như được miêu tả sau đây.


    [​IMG]

    Nhiều người dân Hà Nội bản xứ thề rằng âm /s/ “đúng ra” phải được phát âm là [ʂ], như trong giọng Sài Gòn (gần với âm /sh/ tiếng Anh). Đây là một niềm tin sai lầm, xuất phát từ hiện tượng “siêu chỉnh.” (Đây là hiện tượng xảy ra khi một người tưởng nhầm rằng cách dùng ngôn ngữ của mình là “đúng” khi suy luận về mặt lí thuyết và tìm cách sửa “lỗi”, trong khi “lỗi” đó hoàn toàn không có gì sai). Mặc dù dân Hà Nội đôi khi phát âm nó là [ʂ], trong tiếng Việt tiêu chuẩn thì vẫn hoàn toàn đúng. Một số còn cho rằng phát âm /r/ thành [z] là “sai.” Thật là lố bịch! Nếu đúng là như vậy thật, thì có nghĩa là hàng triệu người dân miền Bắc đang nói sai ngôn ngữ mẹ đẻ của chính họ! Chính những người dân bản xứ nói tiếng mẹ đẻ của mình mới là người quyết định rằng cái gì “đúng” – chứ không phải là một tiêu chí lịch sử hay lí thuyết nào.

    3.2. Nguyên âm tiếng Việt

    Tiếng Việt có 11 nguyên âm, 8 nguyên âm dài và 3 nguyên âm ngắn, nhiều nguyên âm đôi và nguyên âm ba, và 8 âm cuối. Bạn nên tham khảo một quyển sách ngữ pháp tốt để được miêu tả đầy đủ về cách phát âm các kết hợp khác nhau của các phụ âm, nguyên âm, âm cuối và các yếu tố khác, vì chúng có thể khá là khó. Bảng dưới đây miêu tả sơ qua về các nguyên âm cơ bản. Chú ý rằng phần miêu tả nguyên âm dưới đây dựa trên tiếng Anh Mỹ tiêu chuẩn và chỉ là so sánh đại khái, trong khi cách phát âm chính xác thì nằm ở cột thứ hai, được miêu tả bằng IPA (Bảng Mẫu Tự Ngữ Âm Quốc Tế)

    [​IMG]

    Đối với người học, những nguyên âm khó phát âm nhất có lẽ là /â/, /ơ/, và /ư/.

    3.3. Âm tiết tiếng Việt

    Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc phức tạp, có thể bao gồm đến năm thành phần, như là âm đầu, âm cuối, và thanh điệu. Những thành phần này có thể kết hợp để tạo ra hàng ngàn âm tiết, trong số đó có nhiều nguyên âm đôi và nguyên âm ba khó phát âm. Trong viện chúng tôi (CJKI), chúng tôi đã biên soạn một cơ sở dữ liệu có thể gọi là lớn nhất thế giới về âm tiết tiếng Việt, với hơn 6785 mục, được tóm tắt lại trong Tóm tắt về âm tiết. Dưới đây là một số âm tiết từ cơ sở dữ liệu đó, cùng với cách phát âm chính xác của giọng Hà Nội tiêu chuẩn (Hà Nội 2 chính xác hơn) và giọng Sài Gòn, được miêu tả bằng IPA.

    [​IMG]

    Năm thành phần này tương tác với nhau theo nhiều cách phức tạp, khiến cho cách phát âm thay đổi, đặc biệt là trong chất lượng và độ dài của nguyên âm. Ví dụ, /ô/, bình thường phát âm là [o], trở thành [ow] trong từ bông, trong khi /o/ bình thường là [ɔː] trở thành [aw] trong từ bóc, và a bị vô hiệu hoá trong nguyên âm đôi ia [iə]. Có nhiều thay đổi khác tương tự, và chúng được quản lí bởi một bộ luật phức tạp và khó nắm bắt hoàn toàn. Một trong những khó khăn lớn nhất trong hành trình để trở thành một bậc thầy tiếng Việt chính là việc học cách các nguyên âm và phụ âm thay đổi khi chúng được kết hợp thành nhiều loại âm tiết khác nhau.

    3.4. Thanh điệu tiếng Việt

    3.4.1. Thanh điệu khó

    Tiếng Việt thường được miêu tả là có sáu thanh điệu. Không thể bàn cãi là các ngôn ngữ có thanh điệu thường đều khó học, đặc biệt là với những ai không nói một ngôn ngữ thanh điệu như là tiếng Trung Quốc hay Thái. Để bàn về thanh điệu tiếng Việt, ta sẽ dùng “số biểu thị đường nét thanh điệu.”
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 2/7/19
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  15. chachavn1

    chachavn1 Chánh tổng

    [​IMG]

    Biểu đồ ở trên cho thấy bốn thanh điệu của tiếng Quan Thoại, với số 5 tượng trưng cho cấp độ cao nhất và số 1 thấp nhất. Ví dụ, thanh điệu thứ ba có thể được tượng trưng bằng số 214, có nghĩa là nó xuất phát từ cấp 2, rơi xuống cấp 1, rồi tăng lên cấp 4. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét các thanh điệu tiếng Việt. Ký hiệu [ʔ] tượng trưng cho âm tắc cổ họng, được tạo ra bằng cách đột ngột đóng thanh quản lại.

    [​IMG]

    3.4.2. Giải đáp sai lầm


    Đúng vậy, thanh điệu khó, nhưng chúng không khó như bạn tưởng. Các ghi chú sau đây sẽ giải đáp một số hiểu biết sai lầm về thanh điệu tiếng Việt.

    1. Các quyển sách ngữ pháp miêu tả thanh điệu đầu tiên, thanh ngang, là “trung bình” (33). Điều này chỉ đơn giản là không đúng, như đã được chứng minh bởi các nhà nghiên cứu, và bạn cũng có thể dễ dàng kiểm chứng điều này bằng cách nghe một người bản xứ phát âm từ rất vui. Chữ vui nhất định là cao hơn mức trung bình. Nó là một âm trung bình-cao, vào khoảng 44, và thậm chí đôi khi gần với 55.

    2. Có lẽ đa số những người bản xứ đều sẽ cảm thấy vô cùng bất ngờ khi các nhà ngôn ngữ học đưa ra kết luận sau những nghiên cứu kĩ lưỡng rằng tiếng Việt có tám thanh điệu, chứ không phải sáu. Như bạn thấy trong bảng, dấu sắc và dấu nặng có hai loại khác nhau. Ví dụ, âm 5A trong khác với âm 5B trong sắc. 5B bắt đầu từ một điểm cao hơn và tăng lên rất nhanh và sắc. Đối với người học thì học hệ thống tám thanh điệu sẽ hữu dụng hơn, vì nó miêu tả cách phát âm thực tế chính xác hơn.

    3. Trái ngược với các tài liệu dạy tiếng Việt, trong giọng Hà Nội, dấu hỏi thường không được phát âm thành 313 mà là 31. Điều này đặc biệt đúng khi dấu này nằm trước các âm tiết khác, nhưng nó cũng có thể được phát âm thành 313 ở cuối câu khi người nói đang nói cẩn thận. 313 cũng được dùng trong các giọng phương Bắc ở ngoài Hà Nội và ở Sài Gòn. Đối với những người ngoại quốc, 313 có lẽ là dễ nghe hơn bởi vì khi nói nhanh, 31 có thể nghe giống như dấu huyền. Bình thường, dấu huyền là 21, nhưng đôi khi cũng có thể là 31.

    4. Dấu nặng, đặc biệt là loại 6A, khá khó đối với người nước ngoài. Nó hạ xuống rất thấp rất nhanh, họng nghẹn lại để tạo ra âm tắc cổ họng, và quan trọng hơn hết là phụ âm cuối cùng biến mất hay gần như biến mất, cho nên thành ra bạn nghe giống như là bạ hơn, không có /n/ ở cuối.

    5. Chú ý rằng dấu sắc 5B rất cao, và khi nói nhanh nó thậm chí có thể nghe giống như một âm cao ngang gần với 55, trong khi dấu nặng 5B có thể xuống thấp đến 21 hay thậm chí là gần với 11.

    6. Các thanh điệu trong giọng Sài Gòn và các giọng Nam khác khác với giọng Hà Nội. Đặc biệt đáng chú ý là cả dấu hỏi lẫn dấu ngã đều được phát âm như nhau, 313.

    3.5. Nghe hiểu

    Những người học thường nói rằng việc sử dụng một ngôn ngữ một cách thụ động (đọc và nghe), gọi là “tiếp thu,” thì dễ hơn so với việc sử dụng một cách chủ động (nói và viết), gọi là “tạo sản.” Bản thân tôi thấy rằng điều này đúng với đa số các ngôn ngữ mà tôi đã học, đặc biệt là những ngôn ngữ có ngữ pháp khó, như là tiếng Đức và tiếng Ả-rập. Tuy nhiên, tôi thấy rằng điều ngược lại lại đúng với hai ngôn ngữ, tiếng Trung và Việt, là hai thứ tiếng có nhiều điểm tương đồng như là thanh điệu và việc không có sự chia động từ, không có số nhiều, và không có giới tính.

    Đối với tiếng Việt, tôi thấy việc nói dễ dàng hơn nhiều so với việc hiểu. Vấn đề lớn nhất của tôi là nghe hiểu, và tôi thấy bất ngờ rằng tôi có thể nói tiếng Việt tốt hơn là khả năng hiểu của tôi. Tôi đã suy nghĩ nhiều về tình hình này và cố gắng tìm kiếm lí do tại sao điều này lại xảy ra. Dưới đây là những lí do mà tôi đã tìm ra, tuy nhiên, tôi không hoàn toàn tin chắc rằng chúng là lời giải đáp đúng.

    3.5.1. Âm khó

    Đầu tiên và trên hết, tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu và phức tạp về mặt âm vị: 11 nguyên âm, 19 (hay 20) phụ âm đầu, 8 âm cuối và 8 thanh điệu kết hợp lại với nhau để tạo ra gần 7000 âm tiết, so với khoảng 1200 âm tiết trong tiếng Trung và vỏn vẹn 108 âm tiết trong tiếng Nhật. Điều này có nghĩa là không chỉ có một số âm khó phát âm, mà cả việc phân biệt giữa nhiều âm tương tự như nhau cũng là một vấn đề, như là:


    [​IMG]

    3.5.2. Thanh điệu khó

    Đôi khi có thể khó nhận ra những khác biệt giữa các thanh điệu, đặc biệt là trong các cuộc hội thoại nhanh hay thân mật. Ví dụ, sự khác nhau giữa dấu huyền, nặnghỏi trong những từ sau đây khá là tinh vi.

    ngoài [ŋwaːj-2]

    ngoại [ŋwaːj-6A]

    ngoải [ŋwaːj-4]

    Chắc chắn là người học sẽ có thể cảm thấy khó phân biệt giữa các thanh điệu. Nhưng dù gì đi chăng nữa, việc phân biệt giữa các âm giống nhau (như là banhbênh) có lẽ vẫn khó hơn việc phân biệt giữa các thanh điệu giống nhau.

    3.5.3. Nói nhanh/không rõ

    Không thể bàn cãi là tốc độ là một trở ngại lớn trong việc hiểu một ngôn ngữ nước ngoài. Nhưng như ta đã thấy trong §2.13, trong số các ngôn ngữ thế giới đã được điều tra trong một nghiên cứu về mật độ thông tin, thì tốc độ nói tiếng Việt là chậm nhất. Cho nên, tốc độ có lẽ không phải là một nhân tố lớn trong việc nghe hiểu kém. Một vấn đề khác là người học thường hay ở trong một môi trường ồn ào, và người kia thì lại nói không rõ hoặc nói nhỏ.

    3.5.4. Từ vựng lạ

    Đương nhiên, một trở ngại lớn trong việc nghe hiểu là sự hiện diện của những từ lạ, từ lóng, và cụm từ khó. Tuy nhiên, tôi thấy rằng nhiều khi tôi vẫn khó bắt kịp một cuộc hội thoại ngay cả khi tôi đã biết nhiều hay thậm chí là đa số các từ được dùng, do đó, nguồn gốc của tình trạng không hiểu không thể nằm hoàn toàn ở việc thiếu kiến thức từ ngữ.

    3.5.5. Dự tính

    Một yếu tố quan trọng dẫn đến việc hiểu nhầm, ngay cả trong ngôn ngữ mẹ đẻ của bạn, là việc nghe những từ hay câu mà bạn không hề dự tính trước. Khi đang học ngoại ngữ, nếu có người đột ngột hỏi bạn một câu hỏi mà bạn không hề ngờ tới, như là “Trong thành phố bạn có nhiều trường học không?” trong khi bạn lại đang nói chuyện về đề tài thể thao hay ẩm thực, bạn sẽ dễ hiểu nhầm ngay cả khi bạn đã biết mọi từ trong câu hỏi đó rồi.

    3.5.6. Ký ức thính giác

    Nếu bạn đã học một từ bằng cách đọc nó nhưng lại chưa bao giờ hay chỉ hiếm khi nghe nó, thì bạn có thể sẽ không nhận ra nó khi bạn nghe nó. Cái bạn cần là một “hình ảnh thính giác” của một từ, chứ không chỉ là hình ảnh thị giác. Do đó, khả năng nghe kém có thể là do bạn chưa tiếp xúc đủ với âm thanh của từ đó.

    3.5.7. Mất kiểm soát

    Khi bạn nói, bạn đang nắm quyền kiểm soát: kiểm soát đề tài, kiểm soát từ vựng, kiểm soát tốc độ. Khi bạn nghe, người kia sẽ nắm quyền kiểm soát. Khi bạn đang nắm quyền kiểm soát, bạn sẽ chỉ sử dụng những từ vựng mà bạn biết và những đề tài mà bạn chọn, nhưng khi bạn mất kiểm soát thì bạn cũng dễ đánh mất dòng suy nghĩ của mình. Và nếu người kia nói quá nhanh, đổi đề tài, hay dùng nhiều từ lạ, bạn có thể nhanh chóng rơi vào và bị lạc trong một biển cả đầy những âm thanh lạ mà bạn không hiểu gì cả.

    3.6. Nhiều đại từ

    Theo bài viết Wikipedia về đại từ tiếng Việt, có khoảng 50 đại từ trong tiếng Việt, bao gồm số nhiều và những đại từ cổ xưa. (Ít hơn nhiều so với số đại từ khổng lồ trong tiếng Nhật, nhưng vẫn là một con số đáng kể.) Hoàn toàn làm chủ hệ thống đại từ tiếng Việt có thể là một quá trình gian nan, bởi vì (1) số lượng lớn của chúng, và (2) cần phải có hiểu biết về các yếu tố văn hoá và xã hội để sử dụng đại từ một cách chính xác. Có nhiều loại đại từ trong tiếng Việt. Bảng dưới đây cho thấy một phần nhỏ của chúng:

    [​IMG]

    Dưới đây là một số trong những từ thân tộc thông dụng nhất được dùng làm thay thế cho đại từ. Những từ này không gắn liền với một ngôi thứ nhất định nào, nên chúng có thể gây nhầm lẫn. Ví dụ, chị vừa có thể có nghĩa là ‘bạn’ (ngôi thứ hai) và là ‘tôi’ (ngôi thứ nhất). Khi được dùng làm đại từ, những từ này giống đại từ hơn là từ thân tộc thực sự, cho nên trong câu Khi nào bác đến? thì ‘bác’ chỉ đến ngôi thứ hai chứ không phải là một người họ hàng hay người lớn tuổi ở ngôi thứ ba.

    [​IMG]

    Một tin tốt cho người học là trong đối thoại thực tế, đại từ là một “trở ngại”, nhưng không phải là một “vấn đề lớn”. Mặc dù hệ thống đại từ trông có vẻ đáng sợ, chỉ cần một chút nỗ lực là bạn có thể giao tiếp đủ dùng trong thực tế. Ví dụ, bạn luôn luôn có thể yên tâm dùng tôi cho ngôi thứ nhất, mặc dù ngôn ngữ của bạn sẽ trở nên hơi cứng nhắc, hoặc là sử dụng đại từ phù hợp với lứa tuổi, như là cháu nếu bạn vào khoảng dưới 40 tuổi và người kia lớn tuổi hơn bạn nhiều. Với ngôi thứ hai, bạn có thể sử dụng từ bạn thân mật, nhưng tốt nhất là bạn nên dùng từ thân tộc dựa trên tuổi tác, như là anh đối với những người nam lớn tuổi hơn bạn nhưng không quá chênh lệch, và ông đối với những người đàn ông cao tuổi.

    3.7. Nhiều loại từ

    Một đặc điểm đặc biệt của một số ngôn ngữ, như là tiếng Trung, Nhật, và Việt, là việc sử dụng loại từ. Chúng là những từ được dùng để phân loại hay đếm danh từ. Ví dụ:

    Tôi có bốn con chó.

    Giống như từ head của tiếng Anh trong ‘four heads of cattle’ vậy. Vấn đề nằm ở chỗ tiếng Việt có số lượng loại từ giàu có, việc sử dụng chúng là bắt buộc, và có thể khó nhớ được là loại từ nào phù hợp với danh từ nào. Một số loại từ thường gặp bao gồm:

    cái loại từ chung để chỉ những vật vô tri

    con loại từ chung để chỉ những vật thể sống, đặc biệt là động vật

    ly ly hay tách

    cây cây và những vật thể có hình cây

    Phải mất thời gian thì bạn mới có thể làm quen với việc dùng đúng loại từ tiếng Việt. Nhưng ngay cả khi bạn không sử dụng chúng, hay chỉ sử dụng loại từ chung cáicon, bạn vẫn có thể giao tiếp đủ dùng. Cho nên mặc dù loại từ là một phương diện hơi khó trong tiếng Việt, nhưng bạn vẫn không cần phải tuyệt vọng làm gì.

    3.8. Mật độ thông tin

    Trong §2.13 chúng ta đã giải thích rằng mật độ thông tin cao có thể giúp việc học tiếng Việt dễ hơn như thế nào. Nhưng đây có thể là một con dao hai lưỡi. Tức là, mật độ thông tin cao có thể khiến việc nghe hiểu trở nên khó hơn, bởi vì sẽ mất nhiều thời gian và sức lực hơn để phân tích và hấp thu những gói thông tin dày đặc. Ví dụ, trong tiếng Nhật, từ utsukushii ‘đẹp’ kéo dài năm âm tiết so với từ đẹp một âm tiết trong tiếng Việt. Tôi nghĩ rằng có lẽ là trong khi từ utsukushii năm âm tiết đang được phát âm, thì người nghe sẽ tốn ít sức lực hơn để hấp thu thông tin, bởi vì năm âm tiết thì mất nhiều thời gian để phát âm hơn là từ đẹp một âm tiết ngắn ngủi.

    4. TÓM TẮT VÀ KẾT LUẬN

    4.1. Tại sao tiếng Việt dễ

    Dưới đây là tóm tắt mười lăm lí do tại sao tiếng Việt dễ học, dễ hơn nhiều so với nhiều ngôn ngữ khác.

    1. Từ ngắn. Từ ngắn và dễ học. Nhiều từ thông dụng như ngủđi chỉ có một âm tiết, và thậm chí những từ đa âm tiết như là thú vị cũng thường ngắn.

    2. Thanh điệu ổn định. Thanh điệu không thay đổi tuỳ theo ngữ cảnh; có nghĩa là, thanh điệu của mọi âm tiết đều luôn luôn giữ nguyên.

    3. Không giới tính. Tiếng Việt không có giới tính ngữ pháp. Giới tính là một trở ngại lớn đối với người học của nhiều ngôn ngữ như là tiếng Ả-rập và Đức, vì dạng từ thường không theo quy tắc và phi lí.

    4. Không số nhiều. Tiếng Việt không có dạng từ số nhiều, dù là danh từ hay tính từ hay động từ đi chăng nữa. Dạng số nhiều có thể rất bất quy tắc (như trong tiếng Đức và Ả-rập) và do đó cũng khó học.

    5. Không có mạo từ. Tiếng Việt không có mạo từ. Trong nhiều ngôn ngữ như là tiếng Đức và Bồ Đào Nha, làm chủ được mạo từ là một việc khó khăn, bởi vì dạng từ của chúng có thể dựa trên giới tính, số lượng, và cách thể.

    6. Không chia động từ. Động từ tiếng Việt không cần được chia; tức là, chúng chỉ luôn luôn có một dạng. Một số ngôn ngữ có hàng trăm dạng động từ, và người học có thể phải dành ra hàng năm để học được.

    7. Thì dễ. Thì của tiếng Việt được tạo ra bằng một số nhỏ các tiểu từ đặt trước động từ, như là đã cho quá khứ và sẽ cho tương lai. Do đó, bạn có thể sử dụng thành thạo các thì tiếng Việt trong vòng vài phút.

    8. Không bắt buộc dùng thì. Các tiểu từ chỉ định thì có thể được bỏ qua nếu ngữ cảnh đã làm rõ thì của từ, hoặc bằng cách dùng từ thời gian, như trong Tôi ăn trưa hôm qua.

    9. Không cách thể. Từ Việt không thay đổi theo cách thể ngữ pháp (như là danh cách hay tặng cách), khiến cho thứ tiếng này dễ học hơn nhiều so với các ngôn ngữ với hệ thống cách thể phức tạp như tiếng Đức.

    10. Không có sự phù ứng. Bởi vì từ tiếng Việt không biến đổi và cũng không có hiện tượng chia động từ, nên chúng không bao giờ thay đổi theo thì, số lượng, và giới tính của những từ khác trong câu, khác với nhiều ngôn ngữ khác.

    11. Dễ đọc. Tiếng Việt được viết bằng bảng chữ cái Latin có dấu. Nó dễ đọc hơn nhiều so với các ngôn ngữ châu Á khác như là tiếng Trung và Nhật, vốn được viết bằng bộ chữ phi Latin.

    12. Dễ viết. Tiếng Việt dễ viết vì nó sử dụng bảng chữ cái Latin và bởi vì chính tả của nó khá ổn định, không như các ngôn ngữ như là tiếng Pháp và Anh.

    13. Từ dễ. Tiếng Việt được tạo ra dựa trên mô hình Trung Quốc. Bởi vì mỗi âm tiết có một ý nghĩa rõ ràng (thường là được lấy từ một kí tự Trung Quốc), ta có thể dễ dàng hiểu nghĩa từ ghép nếu ta biết được nghĩa của từng thành phần trong từ ghép.

    14. Ngữ pháp dễ. Ngữ pháp tiếng Việt dễ hơn nhiều so với nhiều ngôn ngữ khác, bởi vì những đặc điểm như là chia động từ và biến đổi từ theo cách thể không hiện diện, trong khi những đặc điểm khác, như là dạng số nhiều và thì, thì dễ sử dụng và cũng không bắt buộc.

    15. Mật độ thông tin. Tiếng Việt dồn nhiều thông tin vào trong cùng một số lượng âm tiết hơn là các ngôn ngữ thế giới chủ đạo khác, và điều này giúp việc học dễ hơn bởi vì từ ngắn diễn tả ý nghĩa hiệu quả hơn.

    4.2. Tại sao tiếng Việt khó

    Dưới đây là phần tóm tắt những lí do tại sao tiếng Việt khó học. (Mọi bình luận đều sử dụng giọng Hà Nội tiêu chuẩn).

    4.2.1. Phát âm khó

    1. Phụ âm. Đa số phụ âm trong số 19 phụ âm của thứ tiếng này giống với tiếng Anh và dễ phát âm, nhưng khvà âm đầu ng, như trong ngôn ngữ, có thể khó nói.

    2. Nguyên âm. Tiếng Việt có 11 nguyên âm và nhiều nguyên âm đôi và nguyên âm ba. Đối với người học, những nguyên âm khó nhất có lẽ là /ư/, /ơ/, /â/, và /ưa/.

    3. Âm tiết. Có gần 7000 âm tiết, một số có cấu trúc phức tạp, và nhiều âm tiết khó phát âm, như là đưỡn, nghiêng, dượt,bưu.

    4. Thanh điệu. Tiếng Việt thực ra có tám chứ không phải sáu thanh điệu. Một số thanh điệu khó đọc, như là dấu nặngngã.

    4.2.2. Nghe hiểu

    Mọi người thường cho rằng việc học cách sử dụng một ngôn ngữ một cách thụ động (đọc và nghe) thì dễ hơn là sử dụng một cách chủ động (nói và viết). Đối với tiếng Việt, dường như việc nói có thể dễ hơn là nghe, vì những lí do sau đây.

    1. Âm khó. Âm vị tiếng Việt giàu và phức tạp: 11 nguyên âm, 19 (hoặc 20) phụ âm, 8 âm cuối, và 8 thanh điệu kết hợp lại với nhau để tạo ra gần 7000 âm tiết, một số trong số đó khá giống nhau và khó phân biệt, như là nhinh [ɲïʲŋ], nghinh [ŋïʲŋ], và nghiêng [ŋiəŋ]

    2. Thanh điệu khó. Có thể khó phân biệt được sự khác nhau giữa một số thanh điệu khi người nói đang nói nhanh, chẳng hạn như sự khác nhau giữa ngoài, ngoại,ngoải khi nói nhanh.

    3. Nói nhanh. Tiếng Việt thường được nói khá chậm, nhưng nếu người nói nói nhanh, không rõ, hay nhỏ giọng, thì việc hiểu trở nên khó khăn.

    4. Từ vựng. Một trở ngại lớn trong việc học bất kì ngôn ngữ nào là sự hiện diện của từ và cụm từ lạ. Nhưng ngay cả khi bạn đã biết đa số các từ ngữ, bạn vẫn có thể thấy khó hiểu được tiếng Việt.

    5. Dự tính. Nếu có ai hỏi bạn một câu hỏi nằm ngoài dự tính của bạn, bạn sẽ dễ hiểu nhầm ngay cả khi bạn đã biết mọi từ trong câu hỏi đó.

    5. Trí nhớ thính giác. Nếu bạn học một từ bằng cách đọc nhưng lại hiếm khi nghe nó, bạn có thể không nhận ra nó. Bạn cần một “hình ảnh thính giác,” chứ không chỉ là hình ảnh thị giác, để hiểu được từ đó khi bạn nghe nó.

    7. Mất kiểm soát. Khi nói thì bạn đang là người kiểm soát đề tài, từ vựng, và tốc độ, nhưng khi nghe, người kia sẽ chiếm quyền kiểm soát và bạn có thể bị lạc lối. Do đó, việc nói có thể dễ hơn là việc nghe.

    8. Mật độ thông tin. Mặc dù mật độ thông tin cao khiến cho tiếng Việt nhìn chung dễ học hơn, nhưng trên thực tế nó có thể khiến cho việc nghe khó hơn bởi vì bạn có thể mất nhiều thời gian hơn để hấp thu lượng thông tin dày đặc hơn.

    4.2.3. Đại từ và Loại từ

    1. Đại từ. Có hàng tá đại từ, và để sử dụng chúng một cách chính xác đòi hỏi kiến thức về các yếu tố văn hoá và xã hội. Một điều dễ gây nhầm lẫn chính là việc cùng một từ, như là anhcháu, có thể vừa chỉ đến ngôi thứ nhất lẫn ngôi thứ hai.

    2. Loại từ. Tiếng Việt có số lượng loại từ giàu có, sử dụng chúng là bắt buộc, và nhớ được loại từ nào phù hợp với danh từ nào có thể là một việc khá khó khăn.

    4.3. Kết luận

    Tóm lại, mặc dù việc học tiếng Việt có những trở ngại, đặc biệt là về phần phát âm và phân biệt các thanh điệu và nhiều âm khó, ta có thể nói rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ khá dễ học: từ ngắn, chính tả ổn định, không giới tính, không số nhiều, không chia động từ, không cách thể, không mạo từ, vân vân và vân vân.

    Đừng để những kẻ tông đồ mê tín đang la hét rằng “tiếng Việt khó” làm cho bạn nản chí. Hãy dồn hết lòng can đảm của bạn lên và nhào vào thế giới tiếng Việt đầy thú vị và vui sướng nào.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 2/7/19
    500 Anh EmNguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  16. ken_ars

    ken_ars Thổ địa

    có lẽ tôi cũng lên Google kiếm ít tài liệu đưa lên đây chăng, cứ viết nhăng cuội vào đấy, càng nhiều chữ càng tốt, có lẽ cũng chả cần hiểu mình coppy cái gì, có liên quan hay không, biết đâu may mắn lại ẵm cái giải 150M, kém hơn thì 100M, mà chắc chắn cứ viết là có cái 10M....Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cũng thấy ngại, mình coppy===paste mà không hiểu mình cop cái gì , không hiểu mình viết cái gì thì cũng hổ thẹn với bản thân, thôi thì cũng đành nhìn những người " học rộng, hiểu nhiều " múa tay bàn phím, làm vài động tác coppy mà dán vào, khẽ đọc lướt qua và cười...8->8->8->, mình trẻ khỏe mà đọc chả được nửa bài, các cụ Bô ngồi đọc và ngẫm hết được thì cũng phục các cụ thật :))
     
  17. Giai Ngoan

    Giai Ngoan Lý trưởng

    Hình như Sân đình mới có Giáo sư ngành ngôn ngữ học :))
     
    Diêm La Trần Gian, 500 Anh Emken_ars thích điều này.
  18. Tửu Thần

    Tửu Thần Chánh tổng

    Kính gửi Hội Bô Lão Sân Đình,
    đồng kính gửi BTC Mini game Đố vui có thưởng.

    Dựa trên câu hỏi của Hội Bô Lão (sau này cháu sẽ gọi tắt là các cụ, nghe thân quen hơn ạ), nhà cháu cũng xin đóng góp một số ý kiến:

    1. Tiếng Việt. Câu hỏi đầu tiên sẽ là có khó không? Không ạ, nói nhiều sẽ quen, là đối với một số người quan tâm và dự định sẽ định cư lâu dài ở đây. Dù vậy, thật ra là khó, rất khó là đằng khác. Mọi điều những điều người Việt nói thường đều có hàm ý. Có lẽ là do bản năng, chưa nói đến những trường hợp quan trọng, trong đó có sự trao đổi trong công việc, giữa người trên và lớp người trẻ hơn, càng phải trân trọng. Các cụ từng bảo nói ít hiểu nhiều, song hiểu một đằng lại làm một nẻo, nhiều lí do lắm ạ. Các cụ rồi anh chị em sinh hoạt ở đây đã ít nhất từng nghe người nước ngoài nói chuyện, từng phì cười về cách phát âm, dù chúng ta đều hiểu họ nói gì, trong khi họ lại không hiểu sao mình lại cười. Đó là do dấu, thanh âm, ngữ điệu, ngữ cảnh mà chúng ta quen dùng hằng ngày. Phải mất thời gian rất lâu, người mới bắt đầu học Tiếng Việt mới thấm nhuần được điều đó.
    Trên đây vẫn chỉ nói về quan điểm của nhà cháu về một thói quen, về cách nói chuyện của một nhóm người thân thuộc.
    Chốt lại , Tiếng Việt là ngôn ngữ khó học.
    2. Có lẽ, dù có ba mặt con, song nhà cháu cũng chưa thể nhận ra sự vượt trội của Tiếng Việt của những đứa trẻ nhà cháu so với những đứa trẻ cùng lứa ở đâu đó. Nhà cháu chỉ nhớ, đứa nhớn có chậm nói thì đứa sau lại nhanh hơn, có lẽ do chúng tiếp xúc với nhau nhiều hơn, nói bằng ngôn ngữ ê a, dựa theo những gì chúng nghe mà truyền đạt cho nhau.
    3. Cháu, nhà cháu rất vui vì các cụ có những câu hỏi đố vui có thưởng, để nhà cháu có cơ hội xem lại những điều tưởng như đã biết, hóa ra lại không biết, do các bạn mang đến. Tò mò, có đọc nhưng không đọc hết, ít nhất cũng thấy kiến thức của mình quá nông cạn. Hóa ra, có cả những công trình nghiên cứu về Tiếng Việt, thứ tiếng mà ta nói hằng ngày. Xin cảm ơn các cụ và các bạn nhiều lắm ạ.

    Chúc các cụ mạnh khỏe, vui vẻ và đóng góp nhiều hơn nữa.
     
    THIÊN_VINH, Ken_ars1, 500 Anh Em1 người khác thích điều này.
  19. Xứ Đoài mây trắng

    Xứ Đoài mây trắng Chánh tổng

    Em/cháu xin trả lời câu hỏi T7 Mục Đố Vui Có Thưởng.
    Trong Ngôn Ngữ Tiếng Việt, được các quốc gia trên thế giới đánh giá là 1 trong 10 ngôn ngữ khó học nhất , về cách phát âm, từ ngữ và ngữ pháp có thể chuyển thể đa dạng.
    1. Từ ngắn. Từ ngắn và dễ học. Nhiều từ thông dụng như ngủ và đi chỉ có một âm tiết, và thậm chí những từ đa âm tiết như là thú vị cũng thường ngắn.

    2. Thanh điệu ổn định. Thanh điệu không thay đổi tuỳ theo ngữ cảnh; có nghĩa là, thanh điệu của mọi âm tiết đều luôn luôn giữ nguyên.

    3. Không giới tính. Tiếng Việt không có giới tính ngữ pháp. Giới tính là một trở ngại lớn đối với người học của nhiều ngôn ngữ như là tiếng Ả-rập và Đức, vì dạng từ thường không theo quy tắc và phi lí.

    4. Không số nhiều. Tiếng Việt không có dạng từ số nhiều, dù là danh từ hay tính từ hay động từ đi chăng nữa. Dạng số nhiều có thể rất bất quy tắc (như trong tiếng Đức và Ả-rập) và do đó cũng khó học.

    5. Không có mạo từ. Tiếng Việt không có mạo từ. Trong nhiều ngôn ngữ như là tiếng Đức và Bồ Đào Nha, làm chủ được mạo từ là một việc khó khăn, bởi vì dạng từ của chúng có thể dựa trên giới tính, số lượng, và cách thể.

    6. Không chia động từ. Động từ tiếng Việt không cần được chia; tức là, chúng chỉ luôn luôn có một dạng. Một số ngôn ngữ có hàng trăm dạng động từ, và người học có thể phải dành ra hàng năm để học được.

    7. Thì dễ. Thì của tiếng Việt được tạo ra bằng một số nhỏ các tiểu từ đặt trước động từ, như là đã cho quá khứ và sẽ cho tương lai. Do đó, bạn có thể sử dụng thành thạo các thì tiếng Việt trong vòng vài phút.

    8. Không bắt buộc dùng thì. Các tiểu từ chỉ định thì có thể được bỏ qua nếu ngữ cảnh đã làm rõ thì của từ, hoặc bằng cách dùng từ thời gian, như trong Tôi ăn trưa hôm qua.

    9. Không cách thể. Từ Việt không thay đổi theo cách thể ngữ pháp (như là danh cách hay tặng cách), khiến cho thứ tiếng này dễ học hơn nhiều so với các ngôn ngữ với hệ thống cách thể phức tạp như tiếng Đức.

    10. Không có sự phù ứng. Bởi vì từ tiếng Việt không biến đổi và cũng không có hiện tượng chia động từ, nên chúng không bao giờ thay đổi theo thì, số lượng, và giới tính của những từ khác trong câu, khác với nhiều ngôn ngữ khác.

    11. Dễ đọc. Tiếng Việt được viết bằng bảng chữ cái Latin có dấu. Nó dễ đọc hơn nhiều so với các ngôn ngữ châu Á khác như là tiếng Trung và Nhật, vốn được viết bằng bộ chữ phi Latin.

    12. Dễ viết. Tiếng Việt dễ viết vì nó sử dụng bảng chữ cái Latin và bởi vì chính tả của nó khá ổn định, không như các ngôn ngữ như là tiếng Pháp và Anh.

    13. Từ dễ. Tiếng Việt được tạo ra dựa trên mô hình Trung Quốc. Bởi vì mỗi âm tiết có một ý nghĩa rõ ràng (thường là được lấy từ một kí tự Trung Quốc), ta có thể dễ dàng hiểu nghĩa từ ghép nếu ta biết được nghĩa của từng thành phần trong từ ghép.

    14. Ngữ pháp dễ. Ngữ pháp tiếng Việt dễ hơn nhiều so với nhiều ngôn ngữ khác, bởi vì những đặc điểm như là chia động từ và biến đổi từ theo cách thể không hiện diện, trong khi những đặc điểm khác, như là dạng số nhiều và thì, thì dễ sử dụng và cũng không bắt buộc.

    15. Mật độ thông tin. Tiếng Việt dồn nhiều thông tin vào trong cùng một số lượng âm tiết hơn là các ngôn ngữ thế giới chủ đạo khác, và điều này giúp việc học dễ hơn bởi vì từ ngắn diễn tả ý nghĩa hiệu quả hơn.
    Chân thành cảm ơn các chú/anh đã đọc bài
    Id: 4818749
    Nick : Xứ Đoài mây trắng.
     
    Seo 1976Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.
  20. hunglien1992

    hunglien1992 Lý trưởng

    Ngữ pháp dễ Ngữ pháp tiếng việt dễ hơn nhiều so với nhiều ngôn ngữ khác bởi vì những đặc điểm như chia động từ và biến đổi từ theo cách không hiện diện trong khi những đặc điểm khác như là dạng số nhiều và thì thì dễ sử dụng và cũng không bắt buộc
    id 4767916
    nick hunglien1992
     
    Nguyễn Tiểu Thương thích điều này.