Đình Làng Hà Vỹ ( Làng Quậy ) quê tôi.

Thảo luận trong 'Văn hóa đình làng Việt Nam' bắt đầu bởi Jiang Rossoneri, 18/12/15.

  1. Bỏ qua thông báo này (sẽ không bao giờ được hiển thị nữa, dù bạn đăng xuất/ đăng nhập lại)
  2. Bỏ qua thông báo này (sẽ không bao giờ được hiển thị nữa, dù bạn đăng xuất/ đăng nhập lại)
  3. Ấm Áp Mùa Đông 2020: Nối vòng tay lớn!

    Từ ngày 01/12/2020 đến 31/12/2020. Mục tiêu: 0

    Đã có 0 người ủng hộ. Số tiền nhận được là 0

    0
    Bỏ qua thông báo này (sẽ không bao giờ được hiển thị nữa, dù bạn đăng xuất/ đăng nhập lại)
Bỏ qua thông báo này (sẽ không bao giờ được hiển thị nữa, dù bạn đăng xuất/ đăng nhập lại)
  1. Jiang Rossoneri

    Jiang Rossoneri Lý trưởng

    Làng Hà Vỹ , Xã Liên Hà, Huyện Đông Anh, TP. Hà Nội ( xưa là Hà Hào, tục gọi là Quậy) được hình thành cách ngày nay hơn 2 200 năm do những người dân bản địa ở ngõ Nguyên Hương cùng với dân Cổ Loa xưa (sau có tên nôm là Chạ Chủ) di chuyển về lập ra.. Việc lập làng có liên quan đến sự tích xây đắp thành Cổ Loa, đến Vua Thục Phán dựng Kinh đô.

    [​IMG]

    Khoảng năm 208 trước công nguyên (TCN), sau khi đánh thắng 50 vạn quân Tần xâm lược, Thục Phán lên ngôi, lấy hiệu là An Dương Vương đã chuyển Kinh đô Văn Lang từ Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ) xuống Phong Khê rồi chọn Cổ Loa (Đông Anh) làm Kinh đô mới.
    Theo lệnh của Vua, dân Cổ Loa ngày ấy đã phải bỏ quê cha đất tổ, xuống vùng đất trũng ở phía Đông - Bắc Cổ Loa ( bên ngoài dưới chân vòng thành thứ 3 ). Cùng với dân gốc ở ngõ Nguyên Hương lập trang trại Hà Hào – sau gọi là Hà Vỹ. Đó là sự hy sinh cao cả của người dân Cổ Loa ngày ấy cũng là Tổ tiên của làng Quậy ngày nay
    Để có đất xây dựng Hoàng cung và đắp Loa thành, nhà Vua đã ra lệnh cho dân sở tại phải dời đi nơi khác ở. Dân không muốn đi nhưng vẫn phải tuân theo “phép nước” nên đã tâu với Vua: “Cứ cho dân chúng tôi xuống khu đất trũng kia ở, dù khổ mấy cũng cam lòng".
    Do thái độ “ấm ức” của dân khi tâu, Vua bảo “Đó là dân Cả Quẫy” và chấp nhận cho họ đến nơi đất trũng ở phía Đông - Bắc Cổ Loa cùng với dân bản địa ở ngõ Nguyên Hương lập trang trại Hà Hào. Từ lời nói của Vua nên dân quanh vùng gọi trang Hà Hào là “Cả Quẫy”, dần lâu ngày gọi chệch ra là Quậy .
    Vì dân Quậy là người gốc Cổ Loa xưa, nên hàng năm vào ngày mồng Sáu tháng Giêng (ngày lễ đăng quang đức Vua An Dương Vương) nhân dân Cổ Loa mở hội bao giờ cũng mời "Anh Cả Quậy" về để khấn Vua và được làm lễ ở chiếu trên .
    Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, người dân Hà Hào - Hà Vỹ vẫn cần cù chịu khó làm ăn, luôn luôn đoàn kết đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ, đến nay vẫn tồn tại và ngày càng phát triển .

    [​IMG]

    Đình Làng Hà Vỹ thôn Đại Vỹ Xã Liên Hà, Huyện Đông Anh, Hà Nội hiện thờ năm vị Thánh có công giúp nước cứu dân ( Đó là : Ba vị Thánh thời hai bà Trưng: Thuỷ Hải, Đăng Giang và Khổng Chúng. Vị Thánh thứ tư : Tam Giang thời Lý Nam Đế - Triệu Quang Phục - thế kỷ thứ VI. Vị Thánh thứ 5: Đông Hải - đầu thế kỷ thứ XIII - cuối Lý đầu Trần).

    [​IMG]
    Trên thượng lương của đình còn ghi rõ :
    Đình được xây dựng lần đầu vào năm Canh Thìn (1520), trên nền miếu (hoặc đền) xưa (1), sửa chữa năm Cảnh Hưng thứ 5 (1744), và làm lại to, rộng hơn vào niên hiệu Thành Thái thứ 12 năm Canh Tý (1900) (2)
    Kiến trúc ngôi đình Hà Vỹ theo bố cục chữ công (工) bề thế to lớn uy nghi. Toà đại đình có bẩy gian hai dĩ (đình cũ có năm gian hai dĩ) với chiều dài cả hiên là 29,7 m, rộng 14,5 m, cao hơn 6,5 m với tổng diện tích là 432 m2..
    Hậu cung có chiều dài 10,8 m, rộng 7,5 m, gồm ba gian. Diện tích sử dụng là 81 m2. Các gian của đình bố trí không đều nhau: Gian giữa rộng 4 m, gian cạnh 3,4 m và 3 m, cân xứng sang hai bên, dĩ 1,85m và hiên 1,2 m. Vì kèo của toà đại đình được thiết kế theo kiểu tứ trụ, kẻ chồng, cốn đội hoành, một kiến trúc chắc khoẻ với kết cấu lục hàng châu. Hệ thống các cột của đình khá lớn và bố trí không đều, cột cái to nhất với đường kính 0,85m và các cột con đường kính từ 0,65 đến 0,75m. Các chân cột đều có tảng đá kê khít với chân và làm chìm xuống nền đình.
    Xung quanh làm hiên thoáng, trên làm đao cong, dưới thả kẻ tạo sự cân bằng và vững chắc cho ngôi đình.
    Mái đình do độ cong của bốn đao, bốn góc và trang trí nổi "lưỡng Long chầu Nguyệt" trên bờ nóc, cho ta cảm thấy như chiếc thuyền rồng, phần mái của hậu cung trổ cao thoáng, cân xứng với toà đại đình phía trước.
    Nghệ thuật điêu khắc trong đình được sử dụng trang trí chủ yếu trên các bức cốn và đầu dư. Cốn mặt tiền gian giữa được chạm bằng “rồng phun nước”, mặt bên chạm “phượng vờn mây”; Các cốn hậu gian giữa chạm trang trí với nhiều hoa tiết đẹp mắt. Các đầu dư đều chạm lồng các hình đầu rồng với nhiều vẻ nhiều kiểu dạng, thể hiện tài nghệ kiến trúc chạm khắc: Hoa, xoắn rau trơn... Hai đầu kẻ gian giữa chạm lân hoá, các tầu được chạm nổi lên. Trước giường hành trong cung được chạm nổi lên bức "Thiều châu trương nhĩ", chạm nổi "lưỡng Long chầu Nguyệt" sơn son thiếp vàng. Hai diềm dọc theo cột hậu chạm "Rồng phun nước", ngoài cửa vào cung cấm cũng là một bức "Thiều châu trương nhĩ". Chạm "lưỡng Long chầu Nguyệt", diềm hai bên chạm "Rồng phun nước", trên bức "thiều châu" là cốn chạm "Nạ đội nóc", hai bên cửa cấm có cốn chạm "Rồng ngậm hoành", dưới cốn cửa cấm là bức gỗ chạm "Lan đằng", chính giữa chạm nổi thiếp vàng ba chữ: " Tối linh từ ". Hai bên cửa vào cung đều chạm rồng hoá, chân đạp long mã và chạm "tứ quí" trên một khung gỗ. Gian chính giữa được bưng kín với màn giếng sơn son. Các góc và cạnh đều trang trí các hình hoa, hài hoà và trang nhã. Đặc biệt cửa võng của đình Hà Vỹ làm rất kỳ công, được sơn son thiếp vàng miêu tả "tứ linh, tứ quí", các hình khắc sống động hiên chuyết lấy nhau. Ngoài hệ "tứ linh, tứ quí", cửa võng còn có chạm "Lan đằng", hoa lá, long mã. Trên cửa võng chạm nổi bốn chữ “Thánh cung vạn tuế”

    [​IMG]

    Sân đình rất rộng (khoảng 450 m2) xây toàn bằng gạch vuông to do làng Bát Tràng sản xuất, hai bên sân có trồng hai cây bàng (nay vẫn còn) trước sân là ao đình có bờ xây gạch, sát bờ là bệ vàng dùng để đốt vàng mã hoá chân hương, hai góc sân có bến rửa chân (ao đình đã lấp cùng với ao cổng Sứ để làm chợ Quậy như ngày nay).

    [​IMG]

    Cạnh đình còn có Văn Chỉ nơi thờ đức Khổng Tử do các nho sĩ Hà Vỹ xây dựng (nay không còn)
    Đình Hà Vỹ hiện nay còn lưu giữ được nhiều đồ thờ quí làm bằng gỗ, sứ và đồng đặt ở các ban thờ trong đình
    Trong cửa cấm (hậu cung) có :
    - Trên ban thờ có 5 long ngai bằng gỗ, tay đầu rồng sơn son thiếp vàng, biểu tượng cho chỗ ngồi của 5 vị thần, trước mỗi ngai là một hòm sắc phong của các triều Vua trước đây.
    Hiện nay ở đình còn lưu được 42 đạo sắc phong của 10 triều đại Vua nước ta phong tặng 15 lần cho các Thánh ở đình. Đạo sớm nhất vào năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), đạo gần đây nhất vào năm Khải Định thứ 9 (1924) (xem phụ lục 1- chỉ lấy 10/42 sắc phong, tác giả đã phiên âm và phỏng dịch)
    - Thần tích: 2 quyển - làm năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740), sao lại năm Thành Thái thứ 19 (1907) và các tài liệu như hương ước, mục lục …
    - Sập hội đồng hình chữ nhật kích thước: 2m x 1,8m x 0,55m, chân quỳ, chiện, bốn mặt chạm dạ cá, mặt sập 4 góc bao lan hình chiện.
    - Một số đồ thờ: Mâm bồng bằng đồng, mâm bồng bằng gỗ hình vuông, hình tròn, sơn son thiếp vàng, chân quỳ dạ cá, choé sứ, lục bình, đài nến, hạc đồng, nồi hương v.v..
    - Bàn thờ bệ hạ có mâm bồng bằng gỗ hình bầu dục, mâm bồng bằng đồng, nồi hương.
    - Hoành phi trong hậu cung ghi bốn chữ: "Ngũ nhạc giáng thần"
    Ngoài cửa cấm có:
    - Sập hội đồng chân quỳ bằng gỗ hình chữ nhật có cổ chạm lan đằng dạ cá, chân quỳ;
    - Giá gỗ sơn son thiếp vàng có 9 thanh kiếm gỗ liền bao cũng sơn son thiếp vàng
    - Hương án đặt chính giữa dưới cửa võng được sơn son thiếp vàng có kích thước lớn: 2,3 m x 1,11m x 2m, chạm trổ bốn mặt công phu, trên mặt bốn góc có 4 bao lan chạm lưỡng long, ô cổ chạm cúc, trúc, thông, mai tiếp đến là rồng chầu nạ. Hai bên là nạ đội bệ, xà dưới bệ chạm chiện lá, ô giữa chạm rồng chầu nguyệt, qui vờn mây, bộ tứ linh và chạm nạ, các ô bên chạm long mã, phượng lân hý cầu, hai bên chạm thất sự, ô giữa chạm rồng quấn, hai bên chạm long, mã rồi đến các ô cạnh phần dưới chạm trúc mai, nạ đội ô giữa và lèo chạm mây tan.
    - Nồi hương sành da lươn lớn đặt trên hương án.
    - Trước hương án có giá đèn bằng sắt như một cây hoa. Hai bên là hai con hạc bằng gỗ cao to đứng trên lưng con rùa.
    - Hiên án có 6 bức hoành phi sơn then chữ vàng.
    - Xưa có tới hơn 30 đôi câu đối treo ở các cột đình.

    [​IMG]

    Ở đình làng Hà Vỹ hàng năm thường tổ chức Lễ Hội từ ngày 12 đến ngày 30 tháng Giêng. Theo lệ từ ngày 1 Tết Nguyên đán, cụ thủ Điện làm lễ động thổ ở đình. Ngày 10 tháng Giêng, các ông chạ làm lễ mộc dục (rửa đồ thờ)
    Ngày 12 bắt đầu Lễ Hội ( Cũng ngày 12 tháng Giêng làng làm lễ lên lão cho những người đến tuổi 50 - tuổi mụ)
    Từ ngày 13 đến ngày 29, hàng ngày đều có tế lễ với lễ vật được qui định và phân cho các Giáp phải làm. Trong những ngày đó đều có các chầu hát (hát chầu văn, ca trù…) phục vụ các cụ bô lão, các vị chức sắc và quan viên của làng ăn uống tại đình rất tốn kém.
    Ngày 30 mãn tịch đóng cửa đình.
    Ngoài kỳ hội chính còn có các ngày lễ (theo âm lịch) sau đây:
    - Giỗ các vị Thánh vào các ngày 10 tháng Tư (giỗ Tam Giang), 10 tháng Bẩy (giỗ Thuỷ Hải và Đăng Giang), 12 tháng Chín (giỗ Khổng Chúng) và 10 tháng Một - tháng 11 (giỗ Đông Hải)
    - Xuân tế và Thu tế vào ngày 13 tháng Hai và tháng Tám tế tại Văn Chỉ của làng để cầu mong cho làng có nhiều người đỗ đạt
    - Thanh minh (mồng 3 tháng Ba) do các Giáp làm, cỗ có xôi và bánh chay
    - Trung thu (rằm tháng Tám) cũng do các Giáp biện lễ như lễ Xuân tế
    Ngày Lễ Hội ở đình Hà Vỹ thường rất vui, ngoài tế lễ hát chầu văn, ca trù còn có hát tuồng (thường do đoàn tuồng cổ của Châu Phong diễn), chọi gà, cướp chài, đấu vật… có năm còn đốt pháo bông. Trong những ngày hội hè người dân thường nghỉ công việc đồng áng mà đi xem hội, nhiều người còn chơi cờ , tổ tôm, chắn, thò lò, tam cúc… cả làng ăn uống vui chơi thỏa thuê.

    Jiang Rossoneri
    ID : 3619915
    - Sưu tầm & Biên soạn -

    Note :
    Quê tôi hầu như trai làng ai cũng biết chơi chắn nhé, trong đình ngày tết hay ngày có việc làng đều có các chiếu chắn để mọi người rủ nhau chơi , còn nhà nào có việc hiếu việc hỷ...là có bàn chắn, bàn phỏm phục vụ.
    Nhưng chỉ có điều về luật chơi ở đây hơi khác : chi được ù rộng, được ăn cạ đổi chờ và đánh gom nên lần nào tôi về quê chơi cũng đa phần bị thua....hehe.
     

    Các tệp đính kèm:

    Chỉnh sửa lần cuối: 21/12/15
    Tào Tháo, lamtythoiThần Chết Em thích điều này.
  2. Đông Anh 360

    Đông Anh 360 Dân đen

    Bác có đúng ở Quậy không vậy, em cũng ở Đông Anh đây.
     
  3. Jiang Rossoneri

    Jiang Rossoneri Lý trưởng

    Chuẩn Đông Anh 360 ah, nhà Ông Nội anh ở thôn Đại Vỹ gần ao Mắm đi sau đình vào.
     
  4. lamtythoi

    lamtythoi Chánh tổng

    Hôm nay bên Cổ Điển -Đông Anh có Hội làng ,họ mời sang đá gà chọi ..Nhưng vì bận nên ko sang chơi được .Không biết có gần làng Quậy không ?
     
    Tào Tháo thích điều này.
  5. Jiang Rossoneri

    Jiang Rossoneri Lý trưởng

    Cổ Điển nằm ở phía tây huyện Đông Anh, Còn làng Quậy nằm ở Phía đông Huyện Đông Anh bác lamtythoi ah. Từ Cổ Điển đến làng Quậy khoảng 15km, Cổ Điển nằm ở chân cầu Thăng long bác đi hết đường 6 cây ra QL3 đi qua TT Đông anh rồi đi đường sang Từ Sơn Bắc Ninh thì đến làng Quậy ( Làng Quậy trước thuộc phủ Đông ngàn của Kinh bắc nên Văn hóa đậm chất kinh bắc ) . Nếu từ Hà Nội sang bác đi đường Cầu Đuống sang gần hơn ( Cao Tốc HN - Thái nguyên chạy đằng sau làng nhưng ko có đường xuống ).
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 21/12/15
    lamtythoiTào Tháo thích điều này.
  6. Jiang Rossoneri

    Jiang Rossoneri Lý trưởng

    Giải Công thần Đại chiến vừa rồi rất là ngưỡng mộ Bác lamtithoi đấy ah, nhất là ở trận tứ kết 1.
     
    Chỉnh sửa lần cuối: 21/12/15
  7. lamtythoi

    lamtythoi Chánh tổng

    Hôm 27 và 28 /10 Âm lịch có Hội Làng Tó ( Uy Nỗ -ĐA ) có đại gia sửa lại đình làng và làm lễ Khánh thành , mời AE về đá gà chọi ...Lâu lâu được mấy ngày chơi công khai giữa Hội làng ,nên dân chơi gà chọi kéo về đông quá .Hôm sang bên ấy mình bấm để đo thì đúng 24 km tính từ nhà mình . Nội thành Hà Nội giờ chỉ còn có Hội Ngũ Xã và Hội làng Nghĩa Đô thôi...
     
  8. Jiang Rossoneri

    Jiang Rossoneri Lý trưởng

    Đông Anh thì hầu như làng nào cũng tổ chức hội , nhưng tùy từng lịch sử truyền thống và điều kiện kinh tế mà tổ chức to hay nhỏ thôi bác ah. Lớn nhất là lễ hội Cổ Loa mang tầm Quốc gia ( 6/1 âm lịch ), rồi Lễ hội đặc sắc, rước vua giả Đền Sái Thụy Lôi, Thụy Lâm ,Đông Anh ( 11/1 âm lịch ) ....Mời Bác và anh em chắn thủ có điều kiện về Đông Anh tham dự ah.
     
    lamtythoi thích điều này.
  9. mod11

    mod11 Administrator Ban quản trị

    Em cũng ở Đông Anh đây bác. Gần như làng nào cũng có hội làng không lớn thì nhỏ. Dân Đông Anh thì đầu năm nào cũng phải đi hội Cổ Loa với đền Sái bốc quẻ, rồi đi cả hội Gióng Sóc Sơn nữa. Ngày xưa em làm cả cái clip về lễ hội rước vua giả Đền Sái.
     
    Jiang Rossoneri__R_I_P__ thích điều này.
  10. Jiang Rossoneri

    Jiang Rossoneri Lý trưởng

    Đền Sái thuộc làng Thuỵ Lôi, xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Đền Sái là di tích gắn liền với việc vua Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa.
    Tương truyền vua An Dương Vương xây thành cứ ngày đắp đêm lại bị đổ, vì yêu ma Bạch Kê Tinh (tinh gà trắng) phá hoại. Ngày Tinh gà trắng trú ẩn ở núi Thất Diệu, đêm lại xuất hiện. Vua không có cách nào trừ khử, bèn lập đàn cầu khẩn, được Huyền Thiên Trấn Vũ sai thần Kim Quy (tức sứ Thanh Giang) hiện ra mách bảo kế giết Bạch Kê Tinh nên thành ốc mới xây xong. Tưởng nhớ công đức của Huyền Thiên, vua đã cho xây đền trên đỉnh núi Thất Diệu để thờ. Ðây cũng là nơi Huyền Thiên đã tu luyện và cũng được gọi là Vũ Ðương Sơn.

    Lý Thái Tổ sau khi dời đô ra Thăng Long, đã đến núi Sái cầu Huyền Thiên và sinh được hoàng tử. Thấy công đức của Huyền Thiên rất to lớn, nhà vua đã cho xây đền Trấn Vũ (tức đền Quán Thánh) ở phía bắc kinh thành, xin rước hiệu duệ Huyền Thiên về ở đó để thờ. Ðến năm 1677, tượng được đúc bằng đồng đen cao 3,96 m nặng bốn tấn. Huyền Thiên trở thành vị thần trấn ngự phía bắc của "Thăng Long tứ trấn".

    Hằng năm cứ đến tiết xuân, vua Thục lại đại hội quan quân về bái yết. Về sau thấy đại giá đi lại làm hao phí của dân nên vua giao cho dân làng thay mặt mình thực hành nghi vệ Thiên tử, giả xưng quan tước, một đô tướng, một phó đô tướng, một quan trấn thủ, một quan Tán lý, một quan Ðề Lĩnh, thay mặt Vua mà làm cho mạch nước bền dân cư yên ổn mãi mãi. Ngày nay, hằng năm dân làng lại chọn ra một người có đủ tài đức và có uy tín đóng vai vua và các quan tứ trụ cận vệ như Trấn thủ, Tán lý, Ðề lĩnh, Thự vệ để rước vào ngày 11 tháng giêng.